30 November 2010

Chinh phụ ( chèo - NSUT Thanh Bình )








CHINH PHỤ
Thể thơ : 7 từ nói sử Việt Nam
Hình thức : vỉa - trổ thân bài - trổ nhắc lại
Tính chất : buồn da diết - thuộc loại chuyên dùng 


KHI HÁT SẼ THÀNH
Vỉa : Thiết thân i bất tưởng í i vi chình ì phụ ì quân thân i í khơi học i vi vương í i tôn
I : Tu du í trung ì hề ì / đối i / í diện i / khoảnh i / i ỉ khắc í / lý i i hề / phân ì trình ì / phân trình hề / hà lương i ơi i ới í i / lang quân ơi i / thiếp nhớ i / i í chàng ì / a nhất tình hề / lang quân ơi ới xong bên hỡi i / i í chàng ì / i i i ỉ / í i ì ( LK4 )
II: Kỳ ì / xa / tương ứng i / i í quân i / lâm ì tái í / dương i liễu / na í chi i / thiếp nay i / đoạn i trường ì / bằng í hề ì / hề lang quân i ơi i ới í i / lang quân ơi i / thiếp nhớ i / i í chàng ì / a nhất tình hề / lang quân ơi ới xong bên hỡi i / i í chàng ì / i i i ỉ / í i ì ( LK 4 )
III: Khứ i khứ / lạc i mai i / i í thanh i / tiệm i viễn i / hành / hành / chinh ỉ bái í / sắc i í hà / ì i mang i / bằng i hề ì / hề ì lang quân i ơi i ới í i / lang quân ơi i / thiếp nhớ i / i í chàng ì / a nhất tình ì hề / lang quân ơi ới xong bên hỡi i / i í chàng ì / i i i ỉ / í i ì (LK4)
IV: Vọng ì / vân / khứ hề ì / i í lang i / biệt i thiếp í / vọng ì sơn / quy ì hề ì / thiếp tự ỉ / ì i lang i / bằng i hề ì / hề i lang quân i ơi i ới í i / lang quân ơi i / thiếp nhớ i / i í chàng ì / a nhất tình hề / lang quân ơi ới xong bên hỡi i / i í chàng ì / i i i ỉ / í i

Chọn Tuổi xây nhà






Khi làm các việc trọng đại như Xây dựng Nhà, người xưa tránh làm các năm gặp hạn Tam tai, Kim lâu hoặc Hoang Ốc 

Tránh các năm Tam Tai : 
- Các tuổi Thân, Tí, Thìn: Tam tai tại các năm Dần, Mão, Thìn. 
- Các tuổi Dần, Ngọ, Tuất: Tam tai tại các năm Thân, Dậu, Tuất. 
- Các tuổi Hợi, Mão, Mùi: Tam tai tại những năm Tỵ, Ngọ, Mùi. 
- Các tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: Tam tai tại những năm Hợi, Tý, Sửu. 



Tránh những năm phạm Kim Lâu : Là những năm: 12, 15 , 17, 19, 21, 24, 26, 28, 30, 33, 35, 37, 39, 42, 44, 46, 48, 51, 53, 55, 57, 60, 62, 64, 66, 69, 71, 73, 75 tuổi (âm lịch). 



Tránh những năm phạm Hoang Ốc : Là những năm: 12, 14, 15, 18, 21, 23, 24, 27, 29, 30, 32, 33, 36, 38, 39, 41, 42, 45, 47, 48 , 50, 51, 54, 56, 57, 60, 63, 65, 66, 69, 72, 74, 75 tuổi (âm lịch). 
Nếu phạm vào Hoang Ốc hoặc Tam Tai thì còn có thể dùng được, nếu phạm vào hai trong ba yếu tố trên thì không nên tiến hành xây dựng, tu tạo nhà ở. Trường hợp đặc biệt không thể trì hoãn, nên dùng biện pháp thay thế.
Lưu ý : Chỉ xem tuổi người chủ nhà, tức người cha hoặc người đàn ông trong gia đình.Chỉ xem tuổi người mẹ hoặc phụ nữ nếu nhà đó không có người đàn ông nào.

Nhiều người lầm tưởng rằng những năm có số cuối là 1, 3, 6, 8 là Kim lâu.

Cách tính Kim Lâu :Lấy số tuổi năm đó của người chủ nhà chia cho 9, nếu không chia hết còn dư 1 là Kim lâu thân (nếu làm nhà thì hại người chủ), nếu dư 3 là Kim lâu thê ( hại người vợ ), nếu dư 6 thì là Kim lâu tử ( hại con) , nếu dư 8 là kim lâu lục súc ( hại con vật nuôi)

Ví dụ : Người chủ định xây nhà năm 37 tuổi. Lấy 37 : 9 = 4 dư 1 phạm vào Kim lâu Thân (hại chủ nhà)

Hoặc năm 39 tuổi định xây nhà. Lấy 39: 9=4 dư 3 , phạm vào Kim lâu Thê (hại người vợ ).
Chúng ta thấy nếu tránh cả những năm hạn Tam tai-Kim lâu- Hoang ốc thì rất khó thực hiện. Nên thường thì chỉ nên tránh năm phạm tuổi Kim lâu.


Trong việc cưới gả, có nơi ở miền bắc người ta cũng kiêng tuổi Kim lâu của người con gái. Nhưng một số nhà dịch học thì cho rằng việc cưới xin, hôn thú không kiêng tuổi Kim lâu mà chỉ kiêng năm tuổi tam tai của nam giới.

Bài viết : NGUYỄN TÀI ĐỨC

Bản văn : NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ




Bản văn được sử dụng hát thờ nhân ngày đản tiệc Vua Cha Ngọc Hoàng ( mồng chín tháng giêng)

NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ VĂN

Bỉ:

Thần kim ngưỡng khải tấu thiên tôn
Tọa thượng dương dương nghiễm nhược tồn
Nguyện thỉnh pháp âm thi huệ lực
Tùy cơ phó cảm nạp trần ngôn

Miễu:

Tiết xuân thiên tam dương khai thái
Mở vận lành vạn đại hưng long
Linh Tiêu Kim Khuyết Vân Cung
Tâm hương thấu đến cửu trùng thiên thai
Thuở đất trời âm dương hòa hợp
Kiến tạo nên vũ trụ càn khôn
Long ngai chín bệ kim môn
Hoàng Thiên Thượng Đế Chí Tôn cầm quyền
Khắp tam thiên đại thiên thế giới
Vua Ngọc Hoàng quyền đại tối linh
Thổng:
Ngôi cao chính ngự thiên đình
Ngai vàng thống chế quần sinh muôn loài
Hằng giá ngự đan đài tử phủ
Khúc nghê thường y vũ xướng ca
Đàn cầm thánh thót thánh tha
Tiếng dâng ngọc tửu hoàng hoa đượm mùi
Vườn thượng uyển thảnh thơi thánh giá
Điện Linh Tiêu thong thả giáng lâm

Dọc:

Đào viên mở hội long vân
Bách tiên văn vũ quần thần âu ca
Cửa thiềm cung bách hoa tiên tử
Đứng đôi bên ngọc nữ cung phi
Rồng bay phượng múa nghê quỳ
Trăm hoa đua sắc tức thì tỏa hương
Nhân khánh hạ tam dương cửu nhật
Thiết đàn tràng kính ngưỡng thiên công
Hãm:
Thần đăng ngũ quả tiến dâng
Kính xin soi xét lỗi lầm trần gian
Ban phúc lộc nhân khang vật thịnh
Khắp bốn mùa cát khánh tường quang
Dồn:
Phong điều vũ thuận an khang
Mãn thiên hỷ khí xuân quang lại về
Thiên tăng tuế đề huề trường thọ
Chiếu nhân gian trăm họ giai xuân
Ơn trên bảo quốc hộ dân
Khuông phù đệ tử thiên xuân thọ trường



Chú thích:
1.     Tiết xuân thiên :tiết trời xuân ý nói trong thời điểm mùa xuân
2.     Tam dương khai thái:tam dương chỉ cho tháng giêng đầu năm mới, theo nguyên lý âm dương tháng mười là tháng “lục âm”, khí âm đã cực thịnh nên bắt đầu từ tháng mười một thì khí dương bắt đầu sinh dần, Tháng một (tháng 11 âm lịch)  là nhất dương sinh, tháng chạp (tháng 12 âm lịch) là nhị dương sinh, tháng giêng (tháng 1 âm lịch) là tam dương sinh. Theo kinh dịch quẻ thái có ba dương ở dưới nên coi tháng giêng là tháng mở đầu cho vận thái tức vận tốt, vận lành
3.     Vạn đại hưng long: nhiều điều tốt lành, thịnh vượng
4.     Linh Tiêu Kim Quyết Vân Cung: tương truyền đó là nơi Ngọc Hoàng Thượng Đế ngự gọi đầy đủ là Linh Tiêu Bảo Điện Kim Khuyết Vân Cung. Linh là linh thiêng, tiêu là khoảng trời không, bảo là quý, điện là nơi vua ở, Kim khuyết là cổng lớn bằng vàng, vân cung là cung điện trên mây. Ý nói nơi Ngọc Đế ngự trang hoàng rộng lớn , cung điện được  làm bằng các thứ quý báu, ở trên trời cao linh thiêng
5.     Tâm hương: hương thơm dâng cúng xuất phát từ sự thành tâm, tấm lòng thành kính
6.     Cửu trùng: người xưa cho rằng có chín tầng trời, tầng cao nhất thứ chín là nơi Ngọc Đế ngự
7.     Thiên Thai: tên ngọn núi ở phía Bắc huyện Thiên Thai, Tỉnh Triết Giang, Trung Quốc, đó là nơi có cảnh thú rất đẹp nên thiên thai được hiểu là cõi tiên, cảnh tiên
8.     Vũ trụ càn khôn: càn là dương, khôn là âm, càn còn có nghĩa là trời, khôn có nghĩa là đất. Đạo âm dương sinh hóa bảo tồn trời đất vũ trụ
9.     Long ngai chín bệ kim môn:long ngai là ghế có chạm hình rồng biểu tượng cho ngôi vị của đức vua, chín bệ là chín bậc thềm trong đó số chín có ý nghĩa là con số lớn nhất trong các số, biểu hiện cho nghĩa cực đại, cực cao, có ý chỉ ngôi vua hoặc gọi nhà vua với ý tôn kính, kim môn là cửa bằng vàng , chỉ nơi quyền quý cao sang
10. Hoàng Thiên Thượng Đế Chí Tôn : danh hiệu của Ngọc Đế - một vị vua tối cao trên trời
11. Tam thiên đại thiên thế giới, Cứ một ngàn thế giới hợp thành một tiểu thiên thế giới, cứ một ngàn tiểu thiên thế giới hợp thành một trung thiên thế giới, cứ một ngàn trung thiên thế giới hợp thành một đại thiên thế giới gọi chung là tam thiên đại thiên thế giới (1000x1000x1000)
12. Thiên đình : triều đình ở trên trời, nơi Ngọc Đế ngự trị
13. Quần sinh nghĩa là các loài có sự sống
14. Đan đài: đan là màu đỏ, cung điện đời xưa đều chuộng sắc đỏ, nên gọi cung điện nhà vua là đan đài
15. tử phủ: tử là màu tía, tử phủ còn gọi là phủ tía, dùng để chỉ cõi tiên
16. Khúc nghê thường y vũ :chỉ điệu múa ở cõi tiên. Theo tích vua Đường Minh Hoàng bên Trung Quốc nhân đêm trung thu được một đạo sĩ đưa lên chơi cung trăng, thấy các tiên nữ mặc xiêm màu cầu vồng lộng lẫy, múa hát duyên dáng, về või trần nhà vua mới phỏng theo điệu nhạc của các tiên nữ rồi sáng tác ra điệu múa nghê thường y vũ  
17. Ngọc tửu hoàng hoa: thứ rượu quý đựng trong bình ngọc, rót ra chén ngọc, hoàng hoa là hoa cúc
18. Vườn thượng uyển: là vườn hoa trong cung vua
19. Đào viên:vườn đào tiên
20. Hội long vân: hội rồng mây, ý nói ngày hội long trọng trên thiên cung ( trong bản văn là mở hội nhân khánh tiệc Ngọc Đế)
21. Bách tiên, văn vũ quần thần : chỉ các vị tiên trên trời, các quan văn, quan võ, là bầy tôi của Ngọc Đế
22. Âu ca: cùng nhau hát để ca ngợi
23. Thiềm cung: cung con cóc.Theo tích Hậu Nghệ xin được thuốc trường sinh của Tây Vương Mẫu.Vợ Hậu Nghệ là Hằng Nga lấy trộm thuốc đó rồi trốn lên mặt trăng, hóa thành con cóc.Vfi vậy thiềm cung dung để chỉ mặt trăng, nơi tiên giới
24. Bách hoa tiên tử: tương truyền mỗi loài hoa lại ứng với một vị tiên nữ, bách hoa là trăm loài hoa, ý chỉ nhiều vị tiên nữ
25. Ngọc nữ cung phi: các tiên nữ
26. Tam dương cửu nhật: tam dương là chỉ tháng giêng, cửu nhật là ngày mồng chín .Mồng chín tháng giêng là ngày đản tiệc Ngọc Hoàng Thượng Đế (ngày giáng sinh)
27. Đàn tràng: Chọn chỗ đất bằng phẳng đắp đất để cúng tế gọi là đàn , nhân việc gì mà tập trung đông người gọi là tràng. Đàn tràng ở đây  là tổ chức cúng lễ Ngọc Đế
28. Thiên công: ông trời ( Ngọc Đế)
29. Thần đăng: đèn thần, chỉ các ngọn đèn cúng trời
30. Ngũ quả: các loại quả dâng cúng ( thường dùng năm loại nên gọi là ngũ quả)
31. Phúc lộc: những điều tốt lành
32. Nhân khang vật thịnh: người và vật đều bình yên tốt lành
33. Cát khánh tường quang: ánh sáng tốt lành, những điều tốt đẹp đáng mừng
34. Phong điều vũ thuận an khang: mưa gió thuận hòa tốt đẹp
35. Mãn thiên hỷ khí: khí tốt đầy trời
36. Xuân quang: ánh sáng mùa xuân, chỉ sự tốt lành
37. Thiên tăng tuế: trời thêm tuổi
38.  Trăm họ giai xuân: giai nghĩa là đều, cùng.Xuân là biểu tượng của sự tốt đẹp,mọi nơi đều được yên vui tốt đẹp
-----------------------------------------------------------
Nguồn :   SOẠN GIẢ PHÚC YÊN

29 November 2010

CÔ BÉ THƯỢNG NGÀN ( Bản văn / hát văn : Vũ Ngọc Thanh )






Văn Cô Bé Thượng Ngàn
Trình bày : VŨ NGỌC THANH 

Riêng một thú trên ngàn thiếu lĩnh
Đỉnh non bồng một cảnh sơn trang
Xinh thay thời thú trên ngàn
Bầu Trời cảnh Phật phong quang bốn mùa
Trên bát ngát trăm hoa đua nở
Dưới cảnh rừng bầy thú dạo chơi
Chim bay chấp chới mọi nơi
Cá theo dòng nước đua bơi vẫy vùng
Trên ngàn tùng gió rung lác đác
Đỉnh sườn non đá xếp cheo leo
Sông Thương nước chảy trong veo
Người xuôi kẻ ngược hò reo vang lừng
Núi xếp núi mấy tầng cao thấp
Cây chen cây tràn ngập màu xanh
Càng nhìn đồi núi càng xinh
Hoa phô sắc thắm đua tranh mọi màu
Ngắm thích chí một bầu phong cảnh
Mùi cơm lam, thịt thính, tính ưa
Đồng Đăng, Ao Cả, Chợ Bờ
Sông Thao, sông Cả, sông Bờ, sông Dâu
Kìa Ngư phủ buông câu thả lưới
Nọ tiều phu đốn củi rừng sâu
Bốn mùa gió mát trăng thâu
Non nhân nước trí một bầu cảnh tiên
Thú cảnh vật rừng sim ao cá
Sẵn mang giang, măng trúc, măng tre
Bạn Tiên đủng đỉnh ra về
Nón chiêng hài xảo lẵng huê ngạt ngào
Sớm Sông Lô, tối vào Tuần Hạc
Bạn Tiên ngồi đàn hát líu lo
Rượu tăm hiến đủ ba vò
Cơm lam, thịt thính, khế chua, măng vầu
Thoi độc mộc đua nhau bẻ lái
Vượt muôn trùng thác Cái ghềnh con
Ầm ầm nước chảy đá mòn
Xa nghe tiếng vượn ru con buồn rầu
Loài bách thú rủ nhau tìm đến
Vượt muôn trùng dâng tiến quả hoa
Lệnh truyền bạch tượng chín ngà
Tiên Cô giá ngự kèn loa xập xình
Ngự tính tình đàn thông phách trúc
Nhịp xênh ngô sáo trúc véo von
Xa nghe tiếng cú gọi hồn
Rừng thiêng nước độc đầu non hổ gầm
Loài cầy cáo âm thầm lặng lẽ
Lũ gà rừng thường lệ điểm canh
Nửa đêm giờ Tý hiện hình
Áo chàm hoa thắm đai xanh mỹ miều
Giận hài xảo lưng đeo cung tiễn
Hú ba quân thẳng tiến rừng sâu
Lệnh truyền Mán mọi sơn đầu
Nghe Cô hạ lệnh rủ nhau mà về
Cho trấn khắp sơn khê rừng cấm
Các cửa rừng Bắc Nẫm sông Neo
Dù ai mắc bệnh hiểm nghèo
Tiên Cô phù chú bệnh đều tan không
Kẻ xuôi ngược dốc lòng thành kính
Nguyện đời đời hưng thịnh đề đa
Thỉnh Cô trắc giáng đền tòa
Khuông phù đệ tử vinh hoa thọ trường.
----------------------------------------------------------------------
http://hatvan.tk

Bản văn : CÔNG ĐỒNG TỨ PHỦ


--------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của đạo Mẫu của Việt Nam
Tứ phủ bao gồm:
Thiên phủ (miền trời): có mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
Nhạc phủ ( miền rừng núi): có mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
Thuỷ phủ ( miền sông nước): mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
Địa phủ (miền đất): mẫu đệ tứ ( mẫu Địa Phủ) quản lí vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------

CÔNG ĐỒNG TỨ PHỦ VĂN

Bỉ cách :

Bảo nhang phước úc khởi tường yên
Thụy khí xung đằng thấu cửu thiên
Nhang giảo chí thành,đăng bảo an
Nguyện cờ đệ tử đắc bình an

Miễu cách:

Việt Nam thuở nền an vương thất
Chuyển pháp luân Phật nhật tăng huy
Kim niên, kim nguyệt, nhật thì.
Đệ tử tâu quy Phật thánh mười phương

Nức khói hương chiên đàn giải thoát
Thoảng mùi hoa ưu bát thơm bay
Nam mô Phật ngự phương Tây
Sen vàng choi chói hiệu nay Di Đà

Ngự trước tòa lưu ly bảo điện
Phật Thích Ca ứng hiện tự nhiên
Tiêu thiều nhã nhạc dưới trên
Cửu Long phún thủy quần tiên ca đàn

Đức toà thị ngại vàng rờ rỡ
Phóng hào quang rực rỡ vân yên
Quan Âm ngự trước án tiền
Tả hữu bồ tát tăng thiền, già na

Đức Hộ Pháp Vi Đà thiên tướng
Vận thần thông vô lượng vô biên.

Thổng cách:

Tận hư không giới thánh hiền
Dục giới sắc giới chư thiên đều mời
Vua Đế Thích Quản cai thiên Chủ
Vua Ngọc Hoàng thiên Phủ chí tôn

Dương phủ ngũ nhạc thần vương
Địa phủ thập điện Minh Vương các tòa
Dưới thoải cung giang hà ngoại hải
Chốn Động Đình Bát Hải Long Vương

Tam nguyên, tam phẩm tam quan
Quản chi tội phúc nhân gian cầm quyền
Ngôi Bắc Cực trung thiên tinh chúa
Tả Nam Tào chua sổ trường sinh

Hữu quan Bắc Đẩu thiên đình
Thập nhị bát tú cửu tinh huy hoàng

Khắp tam giới bách quan văn vũ
Hội công đồng tứ phủ vạn linh
Cửu trùng Thánh Mẫu thiên đình
Bán thiên công chúa quế quỳnh đôi bên
Hội bàn tiên khăn điều áo thắm
Chốn Quảng Hàn cung cấm vào ra

Thỉnh mời Quốc Mẫu Vua Bà
Công đồng Thánh Mẫu tam tòa chúa tiên
Đền Sòng Sơn -Địa Tiên Vương Mẫu
Phú nói:
Đất phủ Giày nổi dấu thiên nhan

Thỉnh mời Thánh Mẫu Đệ Tam
Xích Lân Long Nữ ngự đền Thủy Cung
Tướng uy hùng năm quan hoàng tử
Lĩnh sắc rồng cai ngự bốn phương

Quyền cai sơn thoải đại giang
Đông Cuông Tuần Quán thượng ngàn tối linh
Khắp tam giới đình thần tứ phủ
Hội Công Đồng văn vũ bá quan

Tả mời thái tuế đương niên
Hữu quan đương cảnh thành hoàng quản cai
Tiền hậu lai Lê Triều Thái Tổ
Lệ tùy tòng thừa sự hôm mai

Thỉnh mời Tứ Phủ Khâm Sai
Thủ Đền Công Chúa đáng tài thần thông
Thỉnh tam thập lục cung tiên thần nữ
Quản chư tào thừa sự sớm khuya

Pháp vân Pháp vũ uy nghi
Pháp lôi Pháp điện hộ trì phi phong
Tướng thiên cung mão đồng đai giáp
Lốt thủy tề năm sắc phi phương

Dọc cách:

Thỉnh mời bát bộ sơn trang
Bên thời thập nhị tiên nương chầu vào
Các bá quan cơ nào đội ấy
Giáng bản đền lừng lẫy uy nghi

Thổ Công Thổ Địa thần kỳ
Ngoại Giang Hà Bá sơn kỳ thần linh
Sắc cẩn thỉnh thiên binh lưc sĩ
Ngũ Hổ thần vạn vị hùng binh

Thỉnh mời liệt vị bách linh
Binh tùy binh tiếp hùng binh đáo đền

Dồn:
Phép tự nhiên thiên trù tống thực
Thập biến thiên vạn ức hà sa
Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ rô chỉ đế
Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng

Án tông tông tông tông tông thủy luân nhũ hải
Biến trần trần sái sái giai sung
Nhất nghi lục cúng viên thông
Ân cần phụng hiến công đồng như lai

Nguyệt vân lai cầu an bảo tọa
Đại từ bi hỷ xả tri tâm
Cứ trong một tháng đôi tuần
Dâng hoa cúng quả cầu trăm tuổi già

Hội tam đa , trình tường ngũ phúc
Độ cho đồng hưởng lộc thiên xuân
Thỉnh mời Phật giáng lưu ân
Công Đồng lưu phúc thiên xuân thọ trường
-----------------------------------------------------------------
nguồn : Soạn giả Phúc Yên

Bản văn : CÔ BÉ LỤC

VĂN CÔ BÉ LỤC

( Cô Bé Chín Tư )


Thỉnh mời cô bé Lục Cung
Miệng cười huê nở lưng ong dịu dàng
Suối rừng Hữu Lũng sơn trang
Cảnh tiên giá ngự thạch bàn sơn khê
Rừng thiêng Bắc Lệ đi về
Lục cung thượng đẳng biển đề tối linh
Bốn bề sơn thủy nhiễu quanh
Miếu thờ cô lập cảnh thanh dị kì
Sơn lâm dấu tích còn ghi
Vâng nhời Vương Mẫu thần nghi giáng trần
Giáng về trấn giữ Sơn Lâm
Thần thông hiển ứng xa gần biết danh
Vốn dòng đài các trâm anh
Quản cai sơn cước rừng xanh đại ngàn
Quản cai Bắc Lệ Suối Ngang
Chín Tư, Hữu Lũng Thượng ngàn sơn trung
Vốn xưa hầu Mế Lục Cung
Nức danh cô bé khắp vùng Chín Tư
Sơn Lâm Lục Cung Linh Từ
Long bàn hổ cứ đền thờ tối linh
Có phen biến tướng hiện hình
Hiện ra người mán người kinh đi rừng
Trần gian không biết hãi hùng
Hỏi ra mới biết Người Nùng Chín Tư
Đồng bằng cho tới thượng du
Cường hung bạo ngược khảo trừ không tha
Hồ ly quỷ mị yêu ma
Dây rừng dăng lưới khó đà thoát thân
Phép màu bảo hộ sơn dân
Cưỡi trên bạch tượng hiện thần ra uy
Miếu thờ nhang khói lễ nghi
Kim ngân sớ điệp tiến về các cung
Có phen hóa phép thần thông
Đắng vân giá vũ thượng đồng lên chơi
Cây cao bóng mát thảnh thơi
Suối Ngang,Phố Vị mọi nơi ra vào
Bầu trời sơn thủy tiêu dao
Khi chơi Bắc Lệ lúc vào Voi Xô
Có phen chơi cảnh Ngũ Hồ
Lên đền Tả Phủ,chơi Chùa Tam Thanh
Núi rừng cây phủ màu xanh
Sông Thương nước chảy uốn quanh sườn đồi
Kì Cùng nước chẳng chảy xuôi
Rừng xanh tỏa bóng núi đồi bao la
Chín Tư nơi ấy quê nhà
Có phen lên núi hái trà ngắm trăng
Tiều phu kiếm củi đào măng
Củ mài củ sắn củ năng trên rừng
Cây cao chẳng quản gió rung
Có tiên cô Bé người Nùng độ cho
Khuông phù hương bản ấm no
Phong hòa vũ thuận bốn mùa hanh thông
Ban tài tiếp lộc cho đồng
Cô về tấu đối Lục Cung Thánh Bà
Cứu người khắp hết gần xa
Thần phù ban phép bệnh đà tan không
Oai linh hiển hách lạ lùng
Cưỡi mây nương gió thần thông nhiệm màu
Bốn phương hiếu đạo kêu cầu
Cửa đền cây thị dựng lầu trông ra
Thông reo vượn hót chim ca
Xuân về hạ đến muôn hoa đua màu
Nhất tâm thành kính cúi đầu
Tiên cô gia hộ sở cầu tòng tâm
Thỉnh mời Phật giáng lưu ân
Tiên Cô lưu phúc thiên xuân thọ trường

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị gia bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia, bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa[2]. na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất bà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án Tất Điện Đô Mạn Đa Ra. Bạt Đà Dạ, Ta Bà Ha.
Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có một bức tranh vô cùng nổi tiếng trong loại tranh thờ đó là "Ông Hoàng cầm quân".Bức tranh đã miêu tả một vị thánh đại diện cho một hàng trong Tứ Phủ đó là các Ông Hoàng hay Quan Hoàng.Cũng như hàng Quan Lớn ,các Ông Hoàng cũng đều là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng . Hàng Ông Hoàng gồm:

01- Ông Hoàng Cả ( Thượng Thiên )
02- Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn ( Người Nùng )
05- Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc
06- Ông Hoàng Tư
07- Ông Hoàng Năm
08- Ông Hoàng Bảy ( Bảo Hà )
09- Ông Hoàng Bát