07 December 2010

Quan họ

Quan họ

Quan họ là một làn điệu dân ca, một lối hát giao duyên nổi tiếng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam mà tập trung chủ yếu ở vùng Bắc Ninh-Kinh Bắc.
Nội dung chính trong buổi hát quan họ thường là khi hai bên nam-nữ hát đối nhau. Bên nam gọi là liền anh, bên nữ gọi là liền chị. Các câu hát có thể được chuẩn bị sẵn, nhưng ra đến khi đối đáp nhau thì thường dựa trên khả năng ứng biến của hai bên.
Các chàng trai, cô gái xứ sở quan họ hào hứng, hồi hộp đón chờ ngày hội làng, bởi trong những ngày hội đó, họ được thức thâu đêm, suốt sáng để được nghe, được hát và thi hát. Qua đó, họ học thêm ở nhau những câu ca, những làn điệu mới, họ tìm thấy ở nhau sự đồng cảm qua những ánh mắt, nụ cười.
Quan họ hiện đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý giao cho Bộ Văn hóa Thông tin có kế hoạch lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

Nguồn gốc
Tên gọi Quan họ đã có từ rất xa xưa, không ai biết chính xác vì sao lại có tên gọi này. Có rất nhiều giả thuyết lý giải cho tên gọi Quan họ, nhưng cho đến nay chưa có giả thuyết nào có đủ tính thuyết phục. Có giả thuyết cho rằng Quan họ là thể loại âm nhạc của "Họ nhà quan" nên được gọi là Quan họ (Khác với các thể loại dân ca khác, Quan họ không được sinh ra từ tầng lớp nhân dân lao động, mà được sinh ra từ tầng lớp trung lưu nông thôn) Cũng có truyền thuyết cho rằng, có một ông quan cưỡi ngựa đi qua Làng Diềm xá (xã Hòa Long, huyện Yên Phong), gặp một cô gái đang hát điệu dân ca. Ông quan dừng ngựa lại (họ) để nghe, mê tiếng hát và đặt tên là làn điệu quan họ.

Các loại làn điệu quan họ
Các làn điệu quan họ cổ: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, cái ả, Gió mát trăng thanh, Tứ quý... Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một bài Quan họ đều có giai điệu riêng. Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài (giai điệu) quan họ đã được ký âm (ghi âm bằng ký hiệu âm nhạc trên giấy). Các bài Quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca Quan họ đã được khám phá. Kho băng ghi âm hàng nghìn bài Quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng Quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa tỉnh Bắc Ninh.

Ảnh hưởng của quan họ đến tân nhạc
Nhạc sĩ Phó Đức Phương trong sáng tác "Những cô gái quan họ" đã viết "Trên quê hương quan họ, một làn nắng cũng mang điệu dân ca..."

Một số bài hát quan họ:
Trống cơm 
Tình bằng có cái trống cơm 
Khen ai khéo vỗ 
Ố mấy bông mà nên bông 
Ố mấy bông mà nên bông

Một bầy tang tình con xít 
Một bầy tang tình con xít 
Ố mấy lội, lội, lội sông 
Ố mấy đi tìm, em nhớ thương ai 
Đôi con mắt ố mấy lim dim 
Đôi con mắt ố mấy lim dim 

Một bầy tang tình con nhện 
Ô ố ô ô mấy giăng tơ 
Giăng tơ ô mấy đi tìm, em nhớ thương ai 
Duyên nợ khách tang bồng 
Duyên nợ khách tang bồng... 

Trúc xinh 
Cây (i) trúc xinh, tang tình là cây trúc mọc 
Qua (i) lối nọ (i) như bờ ao 
Chị Hai xinh tang tình là chị Hai đứng 
đứng, đứng nơi nào qua lối như cũng xinh (láy) 

Cây (i) trúc xinh, tang tình là cây trúc mọc 
Qua (i) lối nọ (i) như bên đình 
Chị Hai xinh tang tình là chị Hai đứng 
đứng, đứng một mình qua lối như cũng xinh (láy) 

Cây (i) trúc xinh, tang tình là cây trúc mọc 
Qua (i) lối nọ (i) cơn mưa rào 
Lòng tôi yêu tang tình là chị Hai có 
có dạ nào qua lối như làm ngơ (láy) 
Còn duyên 
Còn duyên là duyên kẻ đón a đón người đưa 
Hết i duyên là duyên đi sớm (sớm) về trưa í mặc lòng 
Người còn không đây tôi vẫn ở không 
Tôi mà còn không, đây em chửa có chồng 
Đây tôi chửa có ai, tính a tinh tính tình tình tinh 
A hội hà, hư hội hừ là hứ hội hừ 

Còn duyên là duyên ngồi gốc (gốc) cây thông 
Hếtí duyên là duyên ngồi gốc (gốc) cây hồng là hồng hái hoa 
Có yêu nhau sang chơi cửa chơi nhà 
Cho thầy là thầy mẹ biết để đuốc hoa (đuốc hoa) định ngày 
Tính a tinh tính tình tình tinh 
A hội hà, hư hội hừ là hứ hội hừ 

Còn duyên là duyên buôn nụ (nụ) bán hoa 
Hết i duyên là duyên ngồi gốc cây đa (chứ) đa đợi chờ 
Đừng thấy tôi lắm í bạn mà ngờ 
Tuy rằng tôi lắm bạn nhưng vẫn chờ (là chờ) người ngoan 
Tính a tinh tính tình tình tinh 
A hội hà, hừ hội hừ là hứ hội hừ 

Lý cây đa (Bắc Ninh) 
Trèo lên quán dốc ngồi gốc ý y cây đa là lý lý như cây đa 
Hỡi cô phú lý tình là cô mặc áo vỏ già hoa lý như nâu non...vỏ già hoa lý lý như nâu non 
Chẻ tre đan nón là lý lý như ba tầm 
Ai đan phú lý tình là cho người đội đêm rằm là lý lý như tháng 
Giêng...là lý lý như tháng Giêng 



Khách đến chơi nhà
Trình bày : Thủy Cải 

Khách đến đến chơi hự nhà là chơi hự nhà 
Đốt than ấy ơ dầu mà quạt nước mấy pha trà là mời người xơi...là chén ấy a trà này 
Quý vậy ơ...quý vậy đôi người ơi 
Mỗi người là người xơi mỗi chén ấy cho em ý y vui lòng...là em ấy ơ muốn cho 
Sông cạn ấy ơ đấy liền 

Để tôi ấy ơ dầu mà đi lại mấy kẻo phiền là đò samg là...tối ấy ơ vào chùa 
Bây chừ ý ơ linh à nha 

Gần chùa là chùa chẳng bén mấy duyên hương ý y chút nào...là sáng có cả trăng chùa 
Sáng ấy ơ sáng cả vườn đào 

Ba bốn người là người ngồi đấy...mấy người nào là còn không là...có ấy à nên chăng 
Se sợi ý ơ chỉ hồng 
Khách đến đến chơi hự nhà là chơi hự nhà 
Đốt than ấy ơ dầu mà quạt nước mấy pha trà là mời người xơi...là chén ấy a trà này 
Quý vậy ơ...quý vậy đôi người ơi 

Người ở đừng về 
Con nhện giăng mùng 
Kẻ Bắc, người Nam



Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị gia bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia, bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa[2]. na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất bà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án Tất Điện Đô Mạn Đa Ra. Bạt Đà Dạ, Ta Bà Ha.
Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có một bức tranh vô cùng nổi tiếng trong loại tranh thờ đó là "Ông Hoàng cầm quân".Bức tranh đã miêu tả một vị thánh đại diện cho một hàng trong Tứ Phủ đó là các Ông Hoàng hay Quan Hoàng.Cũng như hàng Quan Lớn ,các Ông Hoàng cũng đều là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng . Hàng Ông Hoàng gồm:

01- Ông Hoàng Cả ( Thượng Thiên )
02- Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn ( Người Nùng )
05- Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc
06- Ông Hoàng Tư
07- Ông Hoàng Năm
08- Ông Hoàng Bảy ( Bảo Hà )
09- Ông Hoàng Bát