31 March 2011

Cô Tư Ỷ La



Cô Tư Ỷ La cũng vốn là con vua Đế Thích chính cung. Theo lệnh vua cha, cô theo hầu Mẫu Thượng Ngàn tại đất Tuyên Quang. Về sau, nơi Mẫu giá ngự đó, người ta lập đền Mẫu Ỷ La nên cô cũng được gọi là Cô Tư Ỷ La. Tương truyền rằng, Mẫu bà rất yêu quý, thường cho Cô Tư kề cận bên mình. Vậy nên đúng như các tư liệu ghi lại thì chính xác là Cô Tư hầu cận Mẫu Thượng Ngàn chứ không phải cô hầu cận Chầu Bà Đệ Tứ Khâm Sai như chúng ta vẫn thường nghĩ. Ngoài ra Cô Tư còn có một danh hiệu khác là Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ. Qua ước đoán, có thể suy ra rằng danh hiệu này là do Cô Tư đã từng giáng hiện tại đất Tây Hồ, Hà Nội rong chơi, và điển hình nhất là hiện nay vẫn có ban thờ Cô Tư tại đình Tứ Liên; một ngôi đình cổ nằm ở gần Phủ Tây Hồ, Hà Nội.

Trong hàng Tứ Phủ Tiên Cô, Cô Tư Ỷ La thường hiếm khi thấy ngự về đồng nên nếu nói về y phục cũng như cung cách khi hầu giá Cô Tư hiện giờ là rất khó. Tuy nhiên theo phỏng đoán của người viết thì có thể khi hầu giá Cô Tư Ỷ La thường mặc xiêm áo màu vàng nhạt, cô có thể khai cuông và múa mồi hầu Mẫu (đây chỉ là ý kiến cá nhân đưa ra để mọi người tham khảo). Hiện nay Cô Tư vẫn được coi là thờ chính cung hầu Mẫu Thượng Ngàn trong đền Mẫu Ỷ La thuộc thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, như đã nói ở trên, Cô Tư còn được thờ vọng trong Đình Tứ Liên ( xưa gọi là Đình làng Ngoại Châu), phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Khi các thanh đồng hầu tráng mạn đến giá Cô Tư, người ta thường thỉnh rằng:

“ Thỉnh mời Cô Tư Ỷ La
Nguyên xưa hầu cận Vua Bà tỉnh Tuyên…”

Hay có một câu thỉnh gắn liền với sự tích Cô Tư dạo chơi Tây Hồ, người ta cũng thường hát:

“Ai về Tứ Tổng Tây Hồ
Hỏi thăm cho tới đền thờ Cô Tư…”
Bài viết :  Dương Minh Đức 
Chỉnh sưa  : mantico ( hatvan.tk )

Dự lễ lên đồng tại Đền Đôi Cô ( Thanh đồng : Diệu Hoa )


BLOG DỰ  LỄ LÊN ĐỒNG ĐẦU XUÂN  2011 PHẦN 1 
Thanh đồng : Diệu Hoa
Bản đền : Đôi Cô ( Yên Phụ )

Giá đồng : Quan lớn  Đệ Nhất / Quan lớn Đệ Nhị thượng ngàn / Quan Đệ Tam / Quang Đệ Ngũ Tuần Tranh / Chầu Đệ Nhị / Chầu Lục / Chầu Mười / Chầu bé / Ông Bơ / Ông Mười / Cô đôi thượng ngàn / Cô bơ / Cô chín Đền Sòng 

Tham gia :  Trí Minh ( Hà Nội ) / Trần Thái Hoàng ( Hà Nội ) / anh Phong ( khăn áo ) / chị Vân ( Nhị ) / phúc ( cô chín ) / Lưu Công Anh Quân / Hoàng Văn Thái ( Tuyên Quang ) / admin ( mantico ) / 























30 March 2011

NGỘ - Đoản văn đặc sắc của Vân Đình Hùng


Ảnh: Đoàn Kỳ Thanh.



Ngộ


Đoản văn của Vân Đình Hùng

Hồi những năm đầu của thập kỷ 70, ga xe lửa của tuyến đường phía bắc phải sơ tán sang ga Đông Anh. Tôi được theo các con nhang đệ tử đi lễ hành hương ở đền Bảo Hà gần Lào Cai, phải tăng-bo bằng các phương tiện khác đến Đông Anh rồi chờ đến tối, tàu mới khởi hành.
Một vấn lễ của một thành viên Hội-quần-tiên được chuẩn bị khá kỹ. Từ bông hoa, lá trầu, quả cau đến các loại bánh, kẹo, rượu và các loại thực phẩm để dùng làm cỗ mặn. Đi lễ hành hương thường là những người thân, có quan hệ gia đình hoặc bạn bè cùng cánh; nhưng chủ yếu là những người có đồng, căn cao số nặng phải đầu hàng bốn phủ và được “các cô, các cậu” chấm lính bắt đồng. Những người này thường đi theo để giúp việc phụ lễ, bày biện lễ vật trên các ban thờ và hầu dâng.
Tiệc mặn được làm khá công phu, có người còn đem sẵn cả một con lợn sữa đã cạo lông, mổ phanh ra, ướp các loại gia vị, kèm theo gần một yến than Đục-Khê và một chai dấm trộn lẫn mật ong dùng để quay lợn tại nhà đền.
Đến nơi sau tuần trà thuốc, nghỉ ngơi, ai vào việc nấy. Người thì cắt tiết làm gà, người thì chuẩn bị chỗ để quay lợn. Con lợn được đặt úp lên một cái mâm sạch, người đầu bếp già đi theo đoàn cẩn thận lấy chai mật ong trộn với dấm chua cứ thế rót dọc sống lưng con lợn. Hỗn hợp dấm mật ong lan đều, phủ lên da con lợn sữa trắng hếu một lớp màu vàng sền sệt. Xong việc, con lợn được hong gió cho se bớt, rồi được lồng vào một cái xiên hình chữ U có chuôi bằng ống sắt trông tựa như cái gảy rơm ở quê. Hai cái trạc chữ V bằng cây tươi chặt trong vườn được đóng xuống, than Đục-Khê được đốt đỏ rực. Chú lợn con mắt nhắm nghiền được quay qua quay lại trên ngọn lửa than hồng rực, một lúc sau, những giọt mỡ chảy xuống, bắt lửa kêu xèo xèo. Chừng gần một tiếng đồng hồ, lợn chín, da vàng rộm, ửng màu cánh dán. Cứ thế, con lợn được đặt lên một cái mâm đồng đánh sáng choang và được bưng lên đặt lễ tại công đồng. Các món khác cũng vừa làm xong, và được đơm, bày rất khéo trông thật thích mắt. Các cô đồng (thường là các cậu hoặc các ông con trai) là những người buôn bán giàu có, làm ăn đang hái ra tiền mới dám chuẩn bị một vấn lễ thịnh soạn như vậy.
Mâm lễ tam sinh cúng Mẫu và hội đồng tứ phủ gồm đủ các sơn hào hải vị. Lợn, gà, giò lụa, chả quế, bóng, vây, mực... Mâm lễ cúng sơn trang gồm đủ cơm lam, thịt thính, khế chua, măng vầu, 12 con cua đồng hấp chín đỏ nhưng nhức, ốc nhồi hấp với lá bưởi, gừng cay, chanh tươi, ớt quả được bày thật công phu. Hương nến đã thắp lên. Trong không khí trang nghiêm, ông thày (thường là các cung văn cao tuổi đàn anh trong nhóm cung văn hát dâng văn khi hầu đồng) cất giọng ê a trang trọng tuyên sớ, dứt lời, dàn nhạc cử bài nhạc theo điệu Lưu thủy, thường dùng khi hành lễ. Các con nhang, chủ tế sì sụp khấn vái, cầu xin đủ thứ trên đời, chủ yếu là cầu cho được mua may bán đắt, đi tươi về tốt, đi một về mười... Hết tuần hương, cỗ được hạ xuống để mọi người thụ lộc. Ăn uống xong, ai lại vào việc nấy, bày biện hoa quả trên công đồng, cung đệ nhị, hậu cung, lầu cô, lầu cậu, v.v...chuẩn bị cho vấn lễ hầu đồng.
Cô đồng bắc ghế hầu thánh trong vấn lễ hành hương này sau khi dọn mình (tắm rửa) sạch sẽ, mặc bộ đồ lót-mình-hầu màu trắng và bắt đầu trang điểm. Các đồng cô nam giới thường xưng chị em với nhau, họ luôn coi mình là giới nữ, nên trang phục họ chọn để mặc cũng là quần áo nữ. Có người còn độn ngực, mặc áo trong như đàn bà vậy. Nhất là các đồng cô được mời làm hầu dâng thì rất điệu đàng. Trong lúc trang điểm để chuẩn bị hành lễ, họ nói với nhau rất nhẹ nhàng, tô môi, kẻ mắt cho nhau, hoặc cài lại cái khuy áo, trông thật thuận hòa.
Hồi đó còn chiến tranh nên việc lễ bái thật công phu, vất vả. Nhân đức tin của họ đã vượt qua mọi khó khăn để đạt được ý nguyện là được dâng mình cho đấng hư vô. Để có được vấn lễ tố hảo, chủ lễ phải đăng ký trước vớiđồng đền và các quan chức địa phương, xin được chuông trống khi làm lễ. Thậm chí họ còn mời dân thôn và các ông trưởng thôn, trưởng bản đến thụ lộc và dự lễ.
Khoảng tám chín giờ tối, vấn lễ bắt đầu tiến hành. Các cung văn tấu nhạc, ban nhạc có bốn người. Một người đánh đàn nguyệt, một người thổi tiêu, sáo, một người gõ phách, một người đánh trống. Người đánh đàn và gõ phách thường thay nhau hát khi dâng văn các giá thánh về ngự khi hầu đồngVấn lễ hầu đồng thường kéo dài từ sáu cho đến tám tiếng đồng hồ, có giải lao ở giữa thời gian.
Cô đồng chủ lễ chắp tay xin phép mọi người để được hầu thánh và mời bốn đồng cô được chọn làm hầu dâng vào vị trí. Nhạc nổi lên, đèn nến lung linh, hương thơm ngào ngạt, cô đồng trong tư thế ngồi, chùm tấm khăn đỏ thêu rồng phượng lên đầu rồi đảo người cùng với tiếng hú hoang dã, một lúc sau, tấm khăn đỏ được hất tung ra sau khi lời cung văn mời ông thánh đầu tiên về ngự đồng vừa dứt.
Thứ tự hầu đồng được tuân theo nghiêm ngặt. Đầu tiên phải mời các giá Mẫu về ngự, tiếp đó là các Quan lớn rồi giá các Chầu, các ông Hoàng, các Cô và cuối cùng là các Cậu. Có người hầu gần hết các giá, nhưng khi hầu các giá Mẫu, thông thường họ chỉ hầu ba giá Mẫu: Mẫu đệ nhất, Mẫu Thoải, rồi hầu đến Mẫu bản địa (thí dụ như Mẫu Đông Cuông, Mẫu Phủ Giầy...). Khi Mẫu ngự, cô đồng nhập thần, khoan thai, nhẹ nhàng, âm thanh phát ra khe khẽ. Tiếng đàn văn sang trọng lơi buông những âm giai cung đình. Mẫu ngự không lâu, không truyền phán gì, chỉ nhìn sang trái, sang phải như chứng cho tất cả các con nhang đệ tử của Người đang khâm trực đắm say suốt vấn hầu, với đôi mắt ngưỡng mộ, tự tin chờ đợi...
Trong các giá quan lớn ngự đồng, ngôi thứ ba được gọi là Quan Lớn Tam Phủ, khi ngự ngài mặc áo trắng thêu thủy ba sóng gợn ở gấu áo và một ổ rồng chầu bố cục uyển chuyển thành hình tròn trước ngực. Việc thay khăn chầu, áo ngự của các giá được diễn ra ngay tại nơi hành lễ trong tư thế ngồi; bốn người hầu dâng chuẩn bị rất nhanh, chính xác những trang phục cần có, loáng một cái, cô đồng như hóa thân thành một ông thánh khác so vớigiá trước đó đã xe giá hồi cung.
Âm nhạc vẫn dìu dặt chờ đợi. Các bà, các cô đi lễ hành hương bị cuốn hút vào không khí vừa trang nhã vừa siêu thoát linh thiêng. Thời gian như được thay đổi đơn vị đo đối với họ.
Trang phục đã xong Quan Lớn Tam Phủ cầm một bó hương to do người hầu dâng, dâng trong tư thế cúi đầu, ngài bắt đầu khai cuông và hành lễ. Rồi ngài cầm thêm tấm nhiễu đỏ của người hầu dâng khác cũng cúi đầu dâng lên, tay phải giơ cao bó hương nghi ngút nhả khói, bó chân hương được bọc trong một đầu tấm nhiễu đỏ, tay trái chống nạnh, giữ đầu kia của tấm nhiễu, mắt ngài nhìn thăm thẳm vào cõi hư vô, hướng tới các bức tượng đặt trên ban thờ trong hậu cung. Thần sắc như chuyển, như say làm khuôn mặt ngài rạng rỡ dị thường.
Trường đoạn múa thanh long đao thật uy nghi hoà cùng lời văn ca ngợi công đức ngài đã có công dẹp giặc được cung văn dâng thành kính cùng tiếng nhạc nẩy nhịp quân hành. Thỉnh thoảng tiếng hắng giọng oai vệ của ngài phát ra làm mọi người thấy rõ cái uy của ngài. Thanh long đao quay tít, quay tít, lúc tiến, lúc lui, đường đao tỏ rõ bản lĩnh của một đấng bậc đứng đầu bát vạn hùng binh. Các con nhang ngây ngất chiêm ngưỡng...
Khi ngài trao thanh long đao lại cho người hầu dâng, và ngồi xuống cạnh một chồng gối xếp bọc gấm, âm nhạc trùng lại khoan thai. Ngài bắt đầu làm việc quan, hầu dâng cúi đầu dâng thuốc, dâng trà (trà sen thơm ngát vừa pha để cúng khi giá ngài về ngự), ngài vỗ gối nghe văn, thưởng thức lời ca tiếng nhạc, phong độ ung dung. Thỉnh thoảng có những câu hát ca ngợi công đức ngài thật hay, tay trái ngài vỗ gối, tay phải ném ra một số tiền có giá trị không nhỏ để thưởng cung văn. Người cung văn dạ một tiếng nhỏ, và tay đàn hình như dẻo hơn nhập cuộc. Sự phối hợp nhịp nhàng của người đánh trống làm cho không khí ban thưởng càng đậm đà. Khi ngài vỗ gối, những tiếng cắc gõ vào tang trống dồn dập, tiền thưởng tung lên là những tiếng tùng oà ra, vỡ tung trong không khí hừng hực của buổi hành lễ.
Cảm thấy sự hiện diện trên trần gian như thế đã đủ, ngài ngồi xếp bằng, mắt lim dim rồi bất thần tay ngài tung mạnh tấm khăn đỏ chùm lên đầu, tiết tấu nhạc cuống quít lạ thường, người cung văn nhả câu “Thánh giá hồi loan”. Các cô hầu dâng thì “Nam mô” rối rít “Tấu lạy” rối rít khẩn cầu mời gọi các giá thánh về ngự. Bốn giọng hầu dâng như dàn hợp xướng bốn bè cùng cất lên vừa như khẩn khoản, vừa như nũng nịu, cho đến khi cô đồng ra dấu tay, ông cung văn nhìn thấy liền dâng văn mời giá thánh vừa được cô đồng ra dấu. Rồi nét nhạc lại khoan thai dìu dặt mời gọi, lời văn thỉnh mời các giá thánh về ngự đồng được dâng trang trọng, đến khi cô đồng gật đầu, rùng mình tung tấm khăn phủ diện ra thì cung văn bắt đầu bản văn của giá đó tiếp theo vừa chợt hiện về ngự đồng. Khăn chầu áo ngự được thay đổi cho phù hợp.
Trong các hàng quan lớn, các cô đồng hay chọn hầu Quan Lớn Tuần tranh, Quan Lớn Tam phủ, Quan lớn Triệu Tường còn các quan lớn khác ngài ít về ngự đồng. Có một số ít cô đồng sát căn Quan Lớn Trần Triều (Trần Hưng Đạo) khi hầu, giá ngài vẫn về ngự. Mỗi phủ (trong tứ phủ) thường có mười hai ngôi, từ ngôi đệ nhất tới ngôi thứ mười hai, có phủ gọi ngôi thứ mười hai là “bé”, như Cô Bé, Cậu Bé v.v... Các giá hầu khác nhau, cô đồng lại múa với các loại binh khí khác nhau. Khi thì dùng một thanh long đao to bằng gỗ, có lúc lại là đôi hèo hoa với chuỗi lục lạc bằng đồng phát ra âm thanh vui tai, hoặc đôi kiếm gỗ..., tất cả vật dụng trợ giúp cho cuộc hành lễ đều là đồ thờ đặt trong đền, trong phủ.
Sau các giá Quan lớn là các giá Chầu. Các giá chầu có Chầu đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ, chầu lục... Các giá ở ngôi thứ sáu là các giá thượng, sơn trang, nên dâng văn cho các giá này nhạc có tiết tấu sôi động được xây dựng trên nền làn điệu Xá - một trong ba làn điệu chủ yếu: Dọc, Cờn, Xá dùng rất biến hóa trong hát dâng văn hầu đồng. Nét nhạc mang âm hưởng của dân ca các dân tộc vùng núi phía bắc hay vùng tây nguyên nước ta. Người hầu đồng tay múa mồi lửa, miệng ngậm miếng trầu nhai dập, đứng dậy nhún nhảy theo điệu nhạc, tay vung vẩy chiếc khăn voan xanh lục, thỉnh thoảng cất tiếng hú dài. Một lát sau, hầu dâng đốt đôi mồi lửa cháy phừng phừng, cô đồng kẹp mồi lửa vào giữa hai ngón tay để sấp, rồi bắt đầu điệu múa với mồi lửa theo tiếng nhạc và những tiếng hú dài gọi bầy. Nhạc càng nhanh cô múa càng dẻo. ánh lửa từ đôi mồi (làm bằng giấy bản vặn vấn thừng vào nhau được nhúng vừa khéo trong nến nóng chảy) khi lên, khi xuống phản chiếu ánh bạc trong các bộ xà tích, bộ khuy hình con bướm đính trên trang phục và ánh mắt long lanh siêu thoát của cô đồng làm thành một không khí huyền ảo mê hoặc lòng người. Chầu vui bao nhiêu, mặt đổi diện bao nhiêu, sau vấn lễ cô đồng nhiều lộc lắm. Khi về nhà mà được đắc ý nguyện cầu, lộc lá Chầu cho chồng chất, cô đồng lại sắm một lễ tạ to lắm tại bản đền hay một đền nào đó để tạ Người.
Vũ điệu dân gian như một trường đoạn của vai diễn linh thiêng với sự trợ giúp của một tâm linh ổn định, hướng thiện, hướng tới một cõi-tâm-linh vừa được xác lập.
Cõi tâm linh của cô đồng với nhân đức tin đang được lớn dần, bùng lên đột khởi, như được trợ giúp bởi quyền năng vô biên của một ngôi vị vô hình tận ở xa xăm. Người hầu đồng được đặc cách nhận năng lượng vũ trụ truyền tới.
Sau những cơn thăng hoa bạo liệt của điệu múa mồi lửa, Chầu lục quỳ xuống, nhưng thân hình luôn di chuyển, lúc sang phải, lúc sang trái, lúc phía trước, lúc lại ngả về phía sau. Người hiến nguyên một gói thuốc lào Vĩnh Bảo (to bằng ruột cái bánh gai Ninh Giang) vào miệng, nhai cùng miếng trầu đã ứa nước đỏ nồng. Vẫn cái thân ngúc ngoắc, Chầu phát ra những tiếng hú nhẹ nhàng, hun hút sâu, như khoan vào núi đá rậm rạp vô hình. Người bắt đầu ban phát lộc cho các hầu dâng, phát lộc cho những người đang dự lễ, lần lượt ai cũng được một phần lộc của Chầu. Lộc Chầu ban cho là những phần bánh xinh xắn, những túm hoa quả tươi được bao gói, buộc tỉa công phu. Riêng “cái ghế của Chầu”, Người dành riêng miếng trầu đang nhai trong miệng kèm một bông lan hay một bông hồng đỏ thắm xinh xắn. Gói Lộc-Chầu được gói bằng một mảnh giấy điều và được đặt cẩn thận lên ban thờ cạnh cây nến sáng trưng. Hết vấn lễ cô đồng mang về nhà đặt lên bàn thờ tại gia mong Lộc Chầu linh nghiệm, hiển hiện trong doanh thương.
Khi Chầu xe giá, mắt Người nhắm lại, hai tay chắp cao trước mặt, miệng cất tiếng hú nhẹ. Hầu dâng nhanh tay phủ tấm vải đỏ lên đầu. Cung văn vẫn cái nhịp cuống quít nhả lời “Thánh giá hồi loan”. Mặc dù đã hát dâng văn rất nhiều vấn hầu, nhưng đến lúc “Xe giá”, cái cuống quít của tay đàn, tạo nhịp điệu gấp gấp, vẫn như bất thần đến với người cung văn già dặn, ngơ ngác.
Màu sắc trang phục (thường được gọi là khăn chầu áo ngự) của cô đồng tôn trọng ngôi thứ trong mỗi phủ. Màu đỏ cờ là ngôi đệ nhất, màu xanh lá cây tươi là ngôi thứ hai, màu trắng là ngôi thứ ba, màu đào phai là ngôi thứ chín, và ngôi út lại là màu trắng với các đăng ten viền mép áo sặc sỡ. Cũng có cô đồng áp đặt những ý thích riêng của mình khi may khăn chầu áo ngự, nhưng nhìn chung các màu cơ bản cho các ngôi thứ luôn được tôn trọng.
Sau các giá Chầu là các giá Ông Hoàng. Cũng mười hai ngôi nhưng người ta lại gọi khác đi. Ông Hoàng Đệ Nhất, Ông Hoàng Đôi, Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Chín, Ông Hoàng Mười. Mỗi giá ông hoàng đều có đền thờ chính. Tại đền Bảo Hà, Lào Cai là đền thờ ông Hoàng Bảy. Đền thờ Ông Hoàng Mười ở Nghệ An...
Có hai giá Ông Hoàng được hầu rất cẩn trọng, từ khăn chầu áo ngự cho đến lộc ông hoàng, việc chuẩn bị công phu lắm. Khi Ông Hoàng Bảy về ngự giá, ngài mặc áo dài kép hai lớp, lớp trong là áo dài trắng, lớp ngoài là áo dài đoạn màu xanh lam, mặc như vậy được coi là đúng cách sang trọng. Chỉ những cô đồng khá giả, coi trọng việc lễ bái mới dám đầu tư bộ khăn chầu áo ngự cầu kỳ như vậy. Các cô đồng nghèo khi hầu thánh chỉ mỗi một cái áo dài đỏ hoặc thêm một cái xanh, cái trắng, rồi thì cũng vẫn hầu qua các giá thánh, hoàn thành vấn lễ của mình.
Cách thức làm việc quan của các giá Ông Hoàng cũng tương tự như các giá Quan Lớn, nhưng sự oai vệ có phần giảm đi đôi chút. Lúc ngài làm việc quan, hầu dâng dâng trà sen cúng (tuần trà mới khi giá ngài về ngự), dâng thuốc lá được phết nước sái thuốc phiện. Các điếu thuốc được cắm chân hương vào phía đầu lọc, được phết, tẩm nước sái rồi cắm vào một vật mềm đặt trên đĩa, làm thành một món lễ vật lạ mắt đặt trên công đồng. Ngài thườngngự hai cho đến ba điếu, cứ hút đến nửa chừng, ngài lại ban cho hầu dâng hoặc bất kỳ ai ngài muốn. Khói thuốc có nước sái phết ngoài thơm ngầy ngậy làm ngơ ngác các con nhang đang lễ hành hương theo ghế Ông. (Khi bắc ghế hầu thánh, các giá thánh mà người hầu sát căn được gọi là ghế của vị thánh đó, thí dụ ghế Chầu, ghế Ông, ghế Cô...). Trà sen dâng lên, lời văn tao nhã như gió thoảng, văn dâng Ông Hoàng có cả những thú chơi của người trần, có lúc chuyển sang làn điệu hát ả đào, lời ca các thày mượn trong các bài ca trù truyền thống hoặc tự soạn lấy lời. Nội dung dựa vào những đặc trưng của giá Ông, ca ngợi công đức lồng trong những thú chơi tao nhã và những cảnh sắc bồng lai nơi tiên giới trong sự tưởng tượng sáng tạo của người nghệ nhân. Nghe văn lúc làm việc quan cũng phải có kiến thức, các cô đồng thường được bổ xung các kiến thức này qua các lần bắc ghế hầu thánh của chính mình hoặc các lần khâm trực các giá thánh ở những lần đi lễ hành hương. Họ quan sát kỹ và nhớ những động tác chuẩn mực của những người được coi là Đồng Linh Bóng Hiển, đứng đầu trong Hội-Quần-Tiên.
Lộc Ông Hoàng Bảy ban phát là những điếu thuốc lá được bày trên mâm lễ, con nhang đệ tử có người hút ngay tại đền, có người gói cẩn thận đem về. Phát lộc tiền là cách phát lộc phổ biến khi hầu đồng trong một vài giá quy định. Ngài ban phát khắp lượt, ai cũng được một phần lộc nhỏ do những người hầu dâng nhận từ tay ngài đưa tới hoặc do một vài người được ngài chỉ định đem lộc phân phát. Quan niệm khi phát lộc ở các giá hầu thánh là: Tán lộc ra rồi thu lộc về (Tiểu tiền suất, Đại tiền nhập). Các con nhang đệ tử có dính dáng đến ả tiên nâu thường quý các món lộc do Ông Bảy ban phát lắm. Có người còn xin hai suất cho một ghế Ông vắng mặt.
Ông Hoàng Mười lẫm liệt, oai phong trong trường đoạn múa thanh long đao (chỉ có hai giá có múa thanh long đao là giá Quan Lớn Tuần Tranh và giá Ông Hoàng Mười. Có lẽ các ngài đã từng là võ tướng linh hiển của bát vạn hùng binh một thời). Nếu quan sát kỹ, cách múa thanh long đao của hai giá thánh có sự khác biệt trong động tác, điều này nói lên sự công phu của người bắc ghế hầu thánh. Cũng có khi do sự theo dõi chăm chú nhiều lần qua những vấn hầu, rồi khi chính mình được hầu bóng Ngài, trong lúc thăng hoa, động tác tự nhiên nhanh nhẹn lạ thường như có lực lượng siêu nhiên nào ẩn náu phía sau, hay ẩn náu ngay trong những đường đao vậy.
Khi về ngự giá, Ông Hoàng Mười mặc áo dài gấm màu hoàng oanh có các ổ rồng thêu thất thể rất sang trọng. Khăn xếp ngài đội cũng được viền một khăn nét màu vàng cùng loại thêu lưỡng long chầu mặt nguyệt. Động tác của ngài khi làm việc quan sang lắm, mặt ngài đổi diện, trông thật lạ lùng, không giống khuôn mặt ngày thường của cô đồng. Tinh hoa như được phát tiết qua ánh mắt nhìn, qua giọng nói sang sảng khi ngài truyền phán. Lúc ngài làm việc quan, dứt khoát phải mở một chai Sâm-banh, ngài ngự ba lần trong lời văn dâng trang trọng ở chén đầu:
Hội quần tiên chuốc chén rượu đào,
nhất tuần sơ dâng lên bệ ngọc.
Dâng lên cúng Mẫu, các Cô dâng mời, rước Ông Hoàng Mười xơi
và ở chén thứ hai
Dâng lên, dâng lên rượu mời, nhị tuần xơi.
Rước Ông Hoàng xơi
và ở chén thứ ba
Nhất tuần sơ, nhị tuần á ông đã cạn rồi.
Tam tuần tay dâng lên bệ ngọc. Dâng lên cúng Mẫu,
các Cô dâng mời, rước Ông Hoàng Mười xơi.
Lời văn dâng Ông Hoàng Mười, lúc Ngài ngự được coi là sang trọng nhất, Ngài sành điệu trong thưởng lãm mọi mặt, từ cung cách đến cử chỉ nhỏ, từ giọng nói đến cái liếc nhìn, phẩy tay... Văn dâng Ngài trong tiết tấu khoan thai nhã nhặn, lời ca óng lên vẻ kiêu sang của ngôi vị Ngài. Có khi cô đồng bắc ghế hầu thánh, lúc hầu giá Ngài yêu cầu Pháp sư (là những cung văn có thể viết sớ, tuyên sớ) hát những đoạn mà Người thích, được phán truyền như người trần vậy. Và đặc biệt khi Ngài xe giá, Ngài nhắc nhở với cung văn là phải chọn đúng các cô (bát bộ các cô sơn trang, thập nhị các cô tiên nàng trong các giá Cô) mà Người ưng để đón Ngài hồi loan.
Lời ca ở câu vấn như sau :
Ông Hoàng ra về gối xếp ai mang ?
Hèo hoa ai vác, ngựa Ông Hoàng ai coi.
Lời ca ở câu đáp sẽ là :
Ông Hoàng ra về gối xếp Cô Bơ mang,
Hèo hoa Cô Chín vác, ngựa Ông Hoàng Cô Bé coi.
Nghe xong Ngài hoan hỉ lắm, trước khi tung khăn phủ diện trùm lên đầu xe giá, Ngài tung một nắm tiền lộc về phía cung văn trong tiếng ca rối rít “Thánh giá hồi loan”.
Hết các giá Ông Hoàng là đến thời gian giải lao giữa vấn hầu. Người khâm trực buổi lễ bừng tỉnh, các cô hầu dâng cũng như cô đồng bắc ghế hầu thánh đều thoáng lộ chút mệt mỏi và lo toan. Trong đầu họ đang hiện ra những bước tiếp theo cần làm, hoặc sắp xếp lại khăn chầu áo ngựkhăn nét, đai, mạng... Những cái đã dùng rồi gấp gọn lại cho vào vali cất đi, để lại những thứ cần dùng cho giá Cô và giá Cậu sắp tới.
Tiếng trống nhập cuộc dóng dả cất lên để lấy lại không khí siêu thoát thăng đồng của đoạn trước lúc nghỉ. Lời văn dâng lại ngọt ngào lơi buông nhàn nhã thỉnh mời các giá Cô về ngự đồng. Khi hầu các giá Cô, có ngôi vị, người bắc ghế có thể hầu hai ba giá cùng ngôi, nhất là giá Cô Bơ, Cô Chín và Cô Bé. Cô Bơ có thể là Cô Bơ thoải, hoặc là Cô Bơ thác. Cô Chín khi là Cô Chín đền Sòng, Cô Chín Giếng (đền Giếng). Cô Bé Suối Lân, Cô Bé Thác Bờ, Cô Bé Bắc Lệ...
Các giá Cô về ngự, mặc dù là đồng nam thì nữ tính vẫn được thể hiện rõ nhất ở trường đoạn này. Ngoài các việc đã thành bắt buộc mỗi khi các giá về ngự như: khai cuông bằng hương, hành lễ trong điệu Lưu Thủy Kim Tiền... đến khi các giá Cô làm việc cũng thật khác nhau, đặc biệt là các giá Cô Chín. Khi thì Cô Chín dệt gấm thêu hoa với các động tác thật mềm mại, thật duyên dáng e lệ. Đây không phải là các động tác trên sân khấu có gì hời hợt mà là sự phân thân nhập đồng, động tác như thực như mơ. Hai cô hầu dâng dâng tấm lụa tưởng tượng, và cũng trong tưởng tượng Cô Chín làm động tác lấy kim, xâu chỉ và bắt đầu thêu. Lời văn dâng hòa cùng động tác của giá Cô nghe huyền ảo lạ thường.
Cô Chín dệt gấm thêu hoa,
Cô thêu non thêu nước thêu ra con người, thắm tươi...
Cô thêu con Long, con Ni, con Quy, con Phượng...
Đằm mình trong trang phục màu phấn hồng đào phai, với chiếc khăn nét cùng màu duyên dáng, hình bóng một Cô Chín hiển linh đang hiển hiện trước mắt con nhang đệ tử. Đôi môi đỏ lựng say sưa. Đôi tay giá Cô thoăn thoắt những động tác thành thạo và thoát tục, tạo sự linh thiêng cần có trong một vấn lễ. Khi trường đoạn dệt gấm thêu hoa kết thúc, cô ngồi truyền phán và phát lộc. Lộc Cô Chín cũng được người đi lễ hành hương quý lắm, theo họ, nó sẽ mang lại may mắn trong doanh thương, sự vui vẻ trong giao đãi bạn bè, gia đình. Lúc phát lộc của các giálà vui nhất, đời thường nhất. Những khuôn mặt con nhang hoan hỉ như trẻ lại với tuổi thơ mình đã nằm lại nơi quê cha gần bốn chục năm hay hơn nữa. Các bà, các cô, các ông con trai, các cậu... nhao về phía giá Cô xin lộc. Họ nhất loạt hoặc kẻ trước người sau : “Lạy Cô, Cô thương họ Nguyễn, (họ Trần, họ Lê, họ Phạm...) chúng con, Cô rón tay làm phúc, Cô tán lộc ra, Cô thu lộc về. Lạy Cô...”, cứ như thế không gian ngôi đền như bừng tỉnh náo nức, tuổi thơ của mỗi người và của mọi người chen vai thích cánh trở lại. Ôi ! thật là kỳ diệu!
Phần lộc Cô Chín phát vẫn chỉ là những gói bánh kẹo bình thường được bao gói xinh xắn khéo léo, thảng hoặc là những phong bao màu đỏ bên trong có tờ giấy bạc mới tinh gấp làm ba.
Khi Cô Chín xe giá, cái không khí náo nức vẫn còn đọng lại trên khuôn mặt hoan hỉ của các con nhang đệ tửmãi.
Tiếp sau giá Cô Chín là đến các giá Cô Bé. Các giá Cô Bé về ngự thường nũng nịu, hay dỗi hờn. Cô Bé mở quán bán hàng là hình tượng đặc trưng của giá Cô Bé khi về ngự đồng. Cô bán hàng nhưng thật ra là Cô đang phát lộc cho các hầu dâng và các con nhang đệ tử khâm trực Cô, xin lộc Cô. Làn điệu dùng trong văn dâng cô theo điệu Xá thượng, lúng liếng.
Các giá Cậu là phần cuối cùng của vấn lễ. Nhưng các cô đồng nữ mới hay hầu giá Cậu, còn các đồng nam thì ít người hầu giá Cậu. Khi giá Cậu về ngự đồng, Cậu mặc áo trắng ngắn, cổ lá sen, bên ngoài khoác thêm áo giống như áo Ghinê gấm đỏ. Đầu Cậu đội khăn rìu màu đỏ, buộc khéo léo, trông thật nghịch ngợm, trẻ trung. Các bà các cô đồng đứng tuổi sát căn Cậu Hoàng, khi hầu đổi diện, trông họ trẻ đến lạ lùng. Điều này khó giải thích lắm.
Vấn lễ kết thúc, cô đồng bắc ghế hầu thánh trở về với con người mình ở đời thường vẫn trang phục lót-mình-hầu trắng, chưa thay. Nét mệt mỏi phảng phất, nhưng nổi bật trên khuôn mặt là sự mãn nguyện như cô vừa xong một việc lớn. Khuôn mặt thanh thoát hẳn ra, dấu ấn của nhân đức tin hiện rõ trong từng câu nói, điệu cười.
*
Khoảng năm 1976, sau khi đất nước thống nhất một năm, sự giao lưu giữa hai miền không những ở các mặt xã hội mà còn có trong Hội-Quần-Tiên. Có người chuẩn bị cẩn thận rồi vào tận đền thờ các giá tứ phủ để bắc ghế hầu thánh mãi tận Sài Gòn. Trong đó cung văn hát pha tạp không thuần khiết như ngoài Bắc, để kiệm hơi, họ dùng cả tăng âm, micro để dâng văn...
Cung văn chân truyền ở ta hiện còn không nhiều, giọng hay lớp trước phải kể đến ông Đan, ông Đạt, ông Khiêm, đặc biệt ông Cao ở thôn Bằng Sở. Hiện nay, lớp cung văn trẻ, nhiều người có học vấn, được đào tạo chính quy về nhạc cụ tại các nhạc viện nổi tiếng, sẵn có giọng đẹp cũng theo nghề hát cung văn. Nhưng có lẽ cái hồn ngơ ngác, cuống quít khi xe giá hồi loan của các giá thánh thì họ đánh mất, hay chưa thấy nó hiện ra, thật lấy làm tiếc thay.
Tôi có vinh hạnh được thu giọng hát dâng văn của nghệ sỹ Bạch Phượng, ông Phụng, ông Đan, ông Cao hồi những năm đầu thập kỷ 70, ba mươi năm qua, cuốn băng ấy đã xuống cấp do kỹ thuật bảo quản và thời tiết khắc nghiệt của ta. Giá mà các bản văn dâng hầu thánh được thu tại chỗ, và được lưu giữ trong đĩa CD với kỹ thuật số hiện nay... tôi cứ thầm ước như vậy. Một số băng tư liệu về các vấn lễ hầu thánh đã được phát trên các phương tiện thông tin đại chúng, lượng thông tin quá ít ỏi, bộc lộ sự cảm nhận của người làm chương trình thiếu thành tâm với công việc tứ phủ, các góc nhìn của họ thiếu sự tìm tòi tận cội nguồn tâm linh của những người bắc ghế hầu thánh trong mỗi vấn hầu.
*
Hàng năm, Hội-Quần-Tiên tổ chức các vấn lễ hành hương về các đền phủ danh tiếng, trên sơn lâm hoặc ở đồng bằng châu thổ sông Hồng. Xuân thu nhị kỳ, “tháng tám hội Cha, tháng ba hội Mẹ”. Người khá giả, đốn ngộ linh hiển, một năm bắc ghế hầu thánh hai vấn trong tháng hội Cha và hội Mẫu. Phải như thế cõi tâm linh của họ mới an, yên chí làm ăn, hy vọng, chờ đợi sự linh nghiệm của các giá thánh đã về ngự trong vấn lễ.
Tôi không phải người của Hội Quần Tiên, nhưng cứ đến cuối tháng hai, trong tiết Xuân phân, mưa phùn bay nhè nhẹ, thế nào tôi cũng đi ngang qua các đền thờ Mẫu dọc sông Hồng, địa phận xã Đại Lộ, Thường Tín, Hà Tây để nghe từ xa tiếng trống, tiếng đàn cung văn văng vẳng trong không gian bao la của trời đất, con Lạc, cháu Hồng. Rồi cũng tự thấy lòng mình như được giải thoát, đốn ngộ, thanh thản...
Hạ Đình, Thăng Long - Thu Tân Tỵ.

*Bài viết do tác giả Vân Đình Hùng gửi riêng cho Nguyễn Xuân Diện-Blog để tặng bạn đọc.Xin chân thành cảm ơn tác giả!


Nguồn : bài viết blog Nguyễn Xuân Diện

Dự lễ lên đồng tại Đền Đôi Cô ( Thanh đồng : Diệu Hoa ) P2



BLOG DỰ  LỄ LÊN ĐỒNG ĐẦU XUÂN  2011 PHẦN 2 
Thanh đồng : Diệu Hoa
Bản đền : Đôi Cô ( Yên Phụ )

Giá đồng : / Chúa Đệ Tam ( Lâm Thao )/ Chúa Thác Bờ ( Hòa Bình ) /Chầu Đệ Nhị / Chầu Lục / / Chầu bé / Cô đôi thượng ngàn / Cô bơ / Cô chín Đền Sòng 

Tham gia :  Trí Minh ( Hà Nội ) / Trần Thái Hoàng ( Hà Nội ) / anh Phong ( khăn áo ) / chị Vân ( Nhị ) / phúc ( cô chín ) / Lưu Công Anh Quân / Hoàng Văn Thái ( Tuyên Quang ) / admin ( mantico ) / 










Chầu Năm Suối Lân




Chầu Năm Suối Lân. Chầu Năm vốn là người Nùng, dưới thời Lê Trung Hưng ( còn có tài liệu ghi lại rằng, chầu là công chúa tìm nơi thanh vắng, đền cảnh Suối Lân thì chầu ở lại giúp dân), theo lệnh vua, chầu trấn giữ cửa rừng Suối Lân bên dòng sông Hóa, coi sóc khắp vùng sông Hóa. Ở đó chầu không chỉ trấn giữ nơi sơn lâm mà còn giúp dân làm ăn, dạy dân đi rừng, làm nương. Sau này, chầu hóa tại đó và hiển linh giúp dân thuần phục mọi loài ác thú, trừ diệt sơn tinh, ma quái. Tương truyền vào những đêm thanh, chầu hiện hình cùng 12 cô hầu cận bẻ lái giữa dòng sông Hóa.

Thông thường thì Chầu Năm ít ngự đồng hơn là Chầu Lục, chầu chỉ thường ngự trong ngày tiệc vui hoặc những ai sát căn về chầu thì mới hay hầu. Tuy nhiên Chầu Năm cũng là vị chầu bà trên sơn trang nên có đôi khi người ta cũng thỉnh chầu về chứng tòa Sơn Trang. Chầu ngự về đồng thường mặc áo màu lam (bây giờ ở một số nơi, để tránh áo Chầu Năm trùng với áo Chầu Lục thì người ta thường dâng chầu áo xanh thiên thanh và coi đó là màu áo của dòng Suối Lân hoặc chầu cũng có thể mặc áo màu xanh như của Chầu Đệ Nhị), chầu khai cuông rồi múa mồi. Chầu Năm là vị chầu bà cũng có thể chứng cho con nhang đệ tử đội mâm giầu trình.

Đền thờ Chầu Năm Suối Lân được lập bên bờ con sông Hóa, qua cầu Sông Hóa 2 thuộc huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, tên là Đền Suối Lân, dòng suối Lân chảy cạnh đền quanh năm nước trong veo, xanh ngắt. Ngày tiệc chầu được tương truyền là ngày 20/5 (nguồn tài liệu chưa chắc chắn nên chỉ đưa ra để tham khảo). Khi thỉnh chầu văn hay hát:


Ai lên thăm cảnh Suối Lân
Đi qua sông Hóa vào đền Chầu Năm

[...] Giở trang tích cũ Lê Triều
Suối Lân Công Chúa mĩ miều diễm hương”

Hay để ca ngợi tài phép của chầu, văn hát rằng:

“Trăng thanh hổ báo chầu về
Lung linh màu sắc đua khoe trước đền
[...] Phép tiên biến hóa thần thông
Mẫu sai chầu trấn cửa rừng Suối Lân
Chầu thương dân canh khuya biến hiện
Áo chàm xanh thêu lượn nét hoa
Ban đêm gà gáy canh tà
Cất cao tiếng hú hiện ra giữa rừng
Hô thần chú bỗng dưng núi chuyển
Các cửa ngàn bặt tiếng muông kêu
Tà ma phách tán hồn xiêu
Các loài ác thú sợ đều ẩn thân
Để cho biết Suối Lân Công Chúa
Phép sơn trang Thái Tổ ban truyền
Phép tiên biến lá thành thuyền
Mười hai Thổ Mán đôi bên cầm chèo”

Bài viết :  Dương minh Đức

Căn đồng , cơ đày


Những ông đồng bà đồng cho rằng việc hầu đồng của họ là do họ có căn , có số , hay còn gọi là căn đồng . Căn ở đây nghĩa là căn quả , là số phận đã định cho một số người phải hầu thánh . Hay nói một cách khách họ có căn cao số dầy .  Căn số có thể nhẹ hay nặng . Chị N ở tỉnh Hưng Yên nói rằng những người có căn nặng tức là có căn của một vị thánh nào đó , nếu không mở phủ thì sẽ bị thánh hành , bị ốm đau , và cuộc sống sẽ khổ sở . Trở thành ông đồng bà đồng không phải đơn giản . Làm nghề hầu bóng là gánh thêm một bổn phận với các vị thánh Tứ phủ . Những ông đồng bà đồng trước khi quyết định trở thành người hầu thánh họ thường có chuyện chẳng lành , ốm đau , bệnh tật , cơ đày . Có những người còn bị thần kinh , hay bị điên mà nhiều khi không biết lý do vì sao ,  mặc dù đã đi bệnh viện chữa , nhưng không khỏi , họ đành phải gặp một ông đồng trưởng để nhờ làm lễ 

Theo một số đồng thầy thì những người có căn số có thể nhận biết được bằng dáng vẻ , theo tử vi hoặc bằng tướng số . Thậm chí họ còn nói " ai cung có căn " nhưng cơ bản họ dựa vào tử vi và tính cách để đoán qua tính cách mà đoán người đó có căn của vị thánh nào .  Đàn ông và đàn bà có thể có căn của vị thánh khác giới với mình . Những người có căn của vị nam thần , thì người ta cho rằng họ có nét mặt bừng bừng , mắt long lanh trông hơi dữ tướng , nóng tính và bốc đồng . Những người có căn của nữ thần thì có vẻ thuần hơn và nữ tính hơn . Những người phụ nữ nóng tính , nhưng có phần cương quyết thì cho họ là có căn quan hoặc căn ông Hoàng , cũng như vậy những người đàn ông trông nữ tính , thì người ta cho đó là có căn cô , chẳng hạn căn cô chín hay căn cô bé 

Những người có căn của vị thánh nào đó có thể hiện ra tính cách có vẻ phù hợp với phong thái của vị thánh đó như được miêu tả trong truyền thuyết hay chầu văn . Chẳng hạn người có căn của Đức Thánh Trần thì trông rất phong độ và tính khí mạnh mẽ của một quan võ . Khi giáng đồng , họ sẽ thắt cổ bằng một chiếc khăn lụa , đôi khi còn xiên hình và " cắt dấu mặn " , đặc biệt là trong những buổi lễ chữa bệnh hoặc hầu vào những ngày lễ lớn , như là tiệc của Đức Thánh Trần Triều . ....

Nếu chúng ta đến một điện thờ tứ phủ và có cơ hội nói chuyện với chủ đền và kể về bản thân đã bị hành , là nạn nhân bị bệnh kết tóc và bị điên ra sao , và kể về những căn bệnh khác mà chữa không khỏi sau đó đề nghị ông chủ đền mở phủ cho . Chị N là một người như vậy  , chị còn nhấn mạnh rằng cuộc đời chị khấm khá lên rất nhiều từ khi ra mở phủ , và nay chị đã theo đuổi và gắn bó cả đời mình với việc hầu thánh . Chị nói " nếu tôi không lên đồng nữa , tôi sẽ bị ốm dở và không thiết ăn uống gì . Tôi chỉ uống nước và ăn chút hoa quả "
Câu truyện về những ông đồng bà đồng bị kết tóc , bị ốm bị hành là rất phổ biến . Theo lời của họ , thì họ coi đó như là bị bắt sát , bị mắc một thứ bệnh tâm linh , mà đôi khi họ gọi là bệnh âm .  Những bệnh này được nhìn nhận như là triệu chứng của " căn cao số dầy : hay nói một cách khác là căn đồng . Có những người mơ gặp Thánh , nhìn thấy rắn , thấy đỉa , hay mơ bay bổng lên thế giới vô hình khác . Họ có thể bị kết tóc , tức là tóc của họ bị tết và bết lại mà không có lý do , không thể chải cho tóc của họ duỗi ra được ,  Họ có thể bị điên , đi lang thang và nói lăng nhảm nhí




( còn tiếp )

29 March 2011

VIDEO BUỔI HẦU ĐỒNG TẠI L'ESPACE 24 TRÀNG TIỀN HN



Chương trình Thuyết trình và Diễn xướng hầu đồng, tại Trung tâm Văn hóa Pháp
17h đên 21h30 ngày 23 tháng 2 năm 2011 (21 tháng Giêng Tân Mão)






Nguồn : blog Nguyễn Xuân Diện 

Nghề Then của người Nùng

Người Nùng ở Thống Nhất - Đồng Nai có rất nhiều hoạt động tín ngưỡng liên quan đến Then, hình ảnh Bà Then có vai trò rất lớn trong hoạt động văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng nơi đây.

Then là một hoạt động văn hóa tinh thần có ý nghĩa và rất gần gũi với những người Nùng trong cộng đồng. Không chỉ gắn kết giữa nội bộ tộc người của mình mà còn gắn kết với cả người Tày cùng sinh sống. Người Tày, Nùng mê Then vì nhiều lẽ, nhưng trước hết vì “chất thiêng” của Then, hơn nữa Then còn phù hợp với phong tục tập quán và cuộc sống bình dị, tĩnh lặng của núi rừng vùng sơn cước. Hiện nay, Then không chỉ có ở nông thôn mà còn tồn tại cả ở cả vùng đô thị có người Tày cư trú; thậm chí còn theo chân những người Tày, Nùng di cư tự do vào tận Tây Nguyên xa xôi. Bởi thế, có thể nói, ở đâu có người Tày, Nùng là ở đó có Then.

Then diễn xướng nghi lễ mang tính tổng hợp của dân tộc Tày – Nùng. Trong quan niệm của nhiều người, Then là tiên (Slien) của trời xuống giúp dân. Then thay con người đề đạt lời cầu xin lên trời và dại diện của trời phán bảo, đem những phép màu phù hộ con người.

Truyền thuyết cho Then ra đời vào thế kỷ XVI, ở Cao Bằng do các ông Bế Văn Phùng và Nông Quỳnh Văn sáng tác, đặc biệt để chữa bệnh, và đã chữa được bệnh cho vua nhà Mạc nên được vua cho phổ biến rộng rãi.

Về đại thể, có thể phân loại các hình thức cúng bái của người Tày, Nùng thành 2 nhóm chính: nhóm Then, Pụt và nhóm Tào, Phù Thủy. Các dân tộc Tày, Nùng vùng Đông Bắc nước ta gọi tất cả những người có khả năng xuất nhập hồn để giao tiếp với thần linh là Pụt; Còn những người là nữ có khả năng sử dụng cây đàn tính làm nhạc cụ chủ yếu để đệm lời ca, khi hành nghề Pụt là Bà Then. Chữ Pụt thực chất là từ đọc trại từ chữ Phật mà ra, mang tinh thần cứu nhân độ thế của đạo phật.

Đặc điểm của những người làm Then

Có nhiều hình thầy (bà) Then là một vị quan chức của triều đình nhà trời được Ngọc Hoàng cử xuống trần gian làm nhiệm vụ giao tiếp giữa trần gian và nhà trời, theo niên hạn và tuỳ theo năng lực điều binh khiển tướng của mình mà vị quan này sẽ được thăng quan tiến chức. Về lý thuyết là thế nhưng tuỳ theo môn phái và tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể mà việc học nghề cũng như tiêu chuẩn và thời hạn nâng cấp cho Then không giống nhau. Người là Then bao gồm cả nữ giới và nam giới, điểm chung nhất giữa họ là khả năng đàn hát, trong đó khả năng đánh đàn tính là đặc điểm cơ bản để phân biệt cách thức hành nghề của họ với các loại thầy cúng khác. Nghề làm Then của người Nùng khi vào đến vùng đất Đồng Nai chỉ còn lại những phụ nữ hành nghề mà thôi và cư dân trong cộng đồng gọi họ với cái tên của họ. Những người làm Then thường có đặc điểm xuất thân như: từ gia đình có truyền thống làm nghề Then hoặc nghề thầy cúng nhiều đời, nếu là phụ nữ có thể phải nối nghiệp làm Then cho nhà chồng và những người có căn số phải làm Then (số này ít hơn).

Về tiêu chuẩn phải là người nhẹ vía (mỉnh nẩu), có căn số làm thầy cúng. Người có căn số thường mê Then, nhạy cảm với Then. Có thể nhảy múa một cách bản năng theo các trường đoạn Then. Vì vậy không hẳn trong dòng họ có người làm Then là con cháu có thể nối nghiệp được mà đôi khi lại phải chuyển sang người khác họ (trường hợp con dâu nối nghiệp bố mẹ chồng). Cũng có trường hợp trong dòng họ có làm nghề thầy cúng như làm Tào thì con cháu có thể bị ốp (được các Thầy cõi trên chọn làm Then) làm Then. Trong trường hợp này họ được coi là người nối nghiệp cúng bái của gia đình. Những người bị ốp làm Then đều có cùng đặc điểm vào nghề tương tự như có biểu hiện về tình trạng sức khoẻ và thần kinh không bình thường. Nếu là đàn ông thì thườngđiên khùng hoặc bệnh tật như lở loét chân tay chữa mãi không khỏi, thậm chí không tìm ra căn nguyên của bệnh, nếu là phụ nữ thì lẩn thẩn bỏ nhà đi lang thang, trong gia đình thường có nhiều chuyện xui xẻo xảy ra như gia súc chết, con cái ốm đau bệnh tật.

Làm nghề cúng bái liên quan đến thần linh nên trong cuộc sống vào lúc hành nghề Then có những kiêng kỵ khác với người bình thường với các nội dung phổ biến như:

- Tu thân làm điều thiện, không được làm điều ác.

- Vui vẻ, không cuồng dâm ô.

- Thanh tịnh

- Không được lừa đảo dối trá

- Không sát sinh

- Suy nghĩ chín chắn

- Khoan dung độ lượng không yêu ghét thái quá

- Không tham lam

- Tôn thuận đạo, trung thành theo đạo.

Trong cuộc sống hằng ngày, Then phải tuân thủ những quy định của nghề nghiệp như kiêng sát sinh, kieng đập trứng sống, kiêng ăn các loại thịt, trâu, bò, chó. Đối với những người giúp việc cũng có những kiêng kỵ riêng như kiêng không cho những người có bầu hoặc đang trong thời kỳ kinh nguyệt ngồi vào chiếu của các Then đang hành lễ, những người phục vụ phải châm hương từ bếp chứ không được châm hương từ đèn ở bàn lễ…

Sau khi học nghề, chỉ khi nào làm lễ cấp sắc (tức thụ giới) thì thầy (bà) Then mới chính thức được công nhận vào nghề. Đây còn gọi là lễ khai Quang, tiếng Tày, Nùng gọi là tha sủng (mắt sáng), ý nói thầy cũng sẽ có con mắt sáng hơn người thường, có thể nhìn thấu quỷ thần. Từ đây sau khi đã có “chứng chỉ hành nghề”, họ sẽ làm các lễ Then theo khả năng và trình độ của mình và phụ thuộc ở mức độ tín nhiệm của các gia chủ.

Tuỳ từng nơi mà các quy định trong việc nâng cấp Then khác nhau. Tuy nhiên có một điểm chung là việc nâng cấp Then chủ yếu là căn cứ vào việc tăng số dây ở mũ của người làm Then.

Trang phục của Then có hai bộ phận là áo và mũ, áo Then được cắt may đơn giản theo kiểu áo dài phụ nữ cổ tròn, cúc cài ở nách thường có màu xanh, đỏ, vàng. Cả nam giới và nữa giới làm Then đều mặc áo kiểu này. Theo giải thích của Then ban đầu là của phụ nữ nên đàn ông có làm Then thì vẫn phải mặc áo của phụ nữ.

Mũ Then gồm có hai bộ phận là phần đầu mũ (trên) phần đuôi mũ (dưới). Phần đầu mũ chụp lên đầu là phần cố định được làm bằng hai mảnh bìa cứng bọc vải màu vàng hoặc màu đen, phía trên đỉnh là mũ gồm 3 đầu nhọn tượng trưng cho 3 đỉnh núi (tam nhạc). Trên phần đỉnh mũ có thêu hoa văn trang trí với gam màu chính là đỏ vàng đen, theo mô tích đối xứng đằng trước mũ dính hai sợi tua bằng vải màu hình lệnh bài rũ xuống hai bên má người đội. Phần sau mũ có gắn những sợi dây dài buông xuống lưng, trên đây có thêu hoa văn chim phượng hoặc ghép các mảnh vải màu. Mũ và áo được dùng chủ yếu trong đại lễ của nhà Then chứ bình thường không mặc áo và đội mũ lễ.

Những gia đình người Tày - Nùng thường tổ chúc các đám Then (xin giải hạn, cầu may hay chữa bệnh), đến mấy ngày liền. Số lượng các bài hát, điệu múa phụ thuộc vào đám then rất phong phú. Căn cứ vào nội dung và hình thức diễn xướng của các nghi lễ thì có thể phân loại công việc Then thành bốn nội dung sau:

- Then chúc tụng: Khi gia đình có việc vui mừng mà kinh tế khá giả thì họ sẽ mời Then đến hát vui văn nghệ, tuy nhiên người diễn xướng không nhất thiết phải là thầy Then.

- Then bói: Gồm hai loại bói là bói chữa bệnh và Then chơi én, có xuất hồn khi làm lễ.

- Then cầu yên, giải hạn: Là loại Then tiểu lễ do cá nhân thầy Then thực hiện theo yêu cầu của các gia chủ, gồm các loại lễ như: cầu yên, chúc phúc, thượng thọ, nối số bắc cầu, gọi vía trẻ đi lạc, đi sứ đi thuyền, bắc cầu, cầu tự, giải phiền muộn… Then cầu yên thường diễn ra vào đầu năm với mục đích cầu yên giải hạn cho gia đình trong năm. Then giải hạn liên quan đến sự ốm đau, bệnh tật bất thường nên được làm bất kỳ thời gian nào trong năm.

- Hội Then (lẩu Then): là loại Then đại lễ do nhiều thầy Then tham gia, tổ chức tại nhà Then để dâng cúng lễ vật cho tổ nghề theo yêu cầu mục đích của Then chủ nhà.

- Loại Then “hết lệ” (làm lễ) là Then cúng tổ nghề mang tính chất thường kỳ hàng năm. Có nơi như ở Lạng Sơn, Hà Giang làm to tới hai ba ngày, ở Na Rì, Bắc Cạn chỉ làm trong một ngày.

- Lễ cấp sắc hoặc lễ nâng cấp bậc hành nghề cho Then.

Ngoài ra, thuộc Then đại lễ còn có loại Then tham gia các đám cấp sắc của Tào hoặc các đám tang của những người làm nghề thầy cúng.

Trong dòng chảy giao lưu văn hoá sôi động thời mở cửa hiện nay, cũng giống như một số loại hình văn hoá, nghệ thuật dân gian truyền thống của các dân tộc khác, Then đang đứng trước sức ép bị mai một không nhỏ. Một mặt khác, các nghệ nhân Then cao tuổi lần lượt ra đi theo quy luật của tạo hoá; mặt khác, thế hệ trẻ lại chịu chi phối của kinh tế thị trường, của lối sông công nghiệp nên phần nào thiếu mặn mà với Then. Để phần nào góp sức cho Then có thêm sức sống trong cộng đồng, cần phải nhìn nhận Then như một loại hình văn hoá tín ngưỡng tiêu biểu của dân tộc Tày. Từ đó, cần có chính sách tôn vinh, khen thưởng kịp thời các nghệ nhân Then. Đồng thời, cần hoạch định 1 chương trình sưu tầm, nghiên cứu, đánh giá, phục hồi Then.

Giá trị của Then trong đời sống tinh thần của người Tày


Hiện tượng lên đồng không chỉ thấy ở người Việt , mà còn ở nhiều dân tộc khác như Then của người Tày , Mỡi của người Mường , Một của người Thái , Dùa Nhung , Sì Rí của người H' Mông , pijao của người Tây Nguyên , Vijou của người Raglai , bà bóng của người Chăm , múa bóng rỗi của người Việt ở Nam bộ . Sau đây là một hình thứ shaman của người tày hay còn gọi là Then 
Then là một hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng lâu đời của người Tày miền núi phía bắc Việt Nam. Việc nhìn nhận và đánh giá vị trí của Then trong đời sống tinh thần của người Tày là một việc làm cần thiết đóng góp cho việc tìm hiểu đời sống tôn giáo tín ngưỡng của các dân tôc thiểu số nói chung và đồng bào Tày nói riêng. Vì vậy bài viết này sẽ tập trung trình bày những giá trị cũng như những mặt còn hạn chế ở Then.
1. Then phản ánh thế giới tâm linh của người Tày
Thế giới tâm linh của người Tày là thế giới đa thần, qua đó phản ánh sự giao lưu hội nhập giữa yếu tố tôn giáo tín ngưỡng bản địa với các tín ngưỡng du nhập thuộc về Tam giáo.
hát then 
Trước hết Then là sự sinh động hoá quan niệm về thế giới ba tầng của người Tày. Thông qua nhãn quan của những người làm nghề Then, Pụt thế giới ba tầng được hiện lên thật rành mạch với cõi trời, cõi đất và cõi nhân gian mà ở đó với tư cách là người thông quan được với thần linh, người làm Then, Pụt đã đi lại được một cách dễ dàng từ cõi này sang cõi khác. Thông qua thầy Then, cõi trời được cụ thể hoá, hiện thực hoá như là một hình ảnh lý tưởng của cõi nhân gian. Hay nói cách khác Then đã nhân hoá cõi trời. Ngoài cung phủ nguy nga tráng lệ ra, cõi trời của Then cũng rất gần gũi với đời thường: có rừng rú, biển cả, có ruộng vườn, chợ búa, v.v... Điều đó phản ánh sự nhận thức một cách hồn nhiên thô mộc trong thế giới quan của người Tày, Nùng.
Ngoài ra Then còn là sự cụ thể hoá quan niệm hồn linh giáo trong tín ngưỡng dân gian bản địa của người Tày, Nùng. Từ niềm tin dân gian, quả ttứng và chim én đã trở thành công cụ và biểu tượng nghề nghiệp của Then. Tất cả các vị thần trong quan niệm dân gian khi vào trong Then đều đã được hình tượng hoá như những nhân vật có thật. Ngoài tổ tiên, tổ sư là những nhân vật có thực đã khuất, các vị thần linh khác trong Then đều có những dáng vẻ riêng, nhiều vị được hiện lên qua phương thức nhập đồng trong các đám lẩu cấp sắc của Pụt như Thổ công, Táo công, các tướng nghềv.v... Cũng như vậy, khái niệm hồn vía cũng được cụ thể hoá trong Then. Trong những bài cúng cầu yên hoặc cúng giải hạn chữa bệnh, hồn vía được Then, Pụt hình dung như là một sinh linh mềm yếu, rất dễ bị cám dỗ, rất dễ bị tổn thương, muốn đưa hồn, vía về nhà thì phải vỗ về, dỗ dành đôi khi phải dọa dẫm, đe nẹt. Một số vị thần như Mẹ Hoa đã được biểu tượng hoá trong Then qua sự khắc họa tính cách nhân vật rất gần gũi với đời thực.
Cũng như người Kinh, thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng cơ bản trong tín ngưỡng của người Tàyđược thể hiện khá rõ trong Then cấp sắc. Các nghi lễ chính do thầy Then (hoặcTào) chủ trì đều được thực hiện trước bàn thờ tổ tiên từ mở đầu cho đến kết thúc với các thủ tục như trình báo tổ tiên, dâng lễ tổ tiên, tạ ơn tổ tiên.
Mặt khác, do nguyên tắc nối nghiệp tổ tiên nên đối với người Tày thì làm nghề thầy cúng nói chung và làm Then nói riêng trước hết là vì trách nhiệm với tổ tiên dòng họ và là vì sự bình an của bản thân và gia đình. Vì vậy đôi khi đối với một số người thì tham gia vào thế giới thầy cúng là một việc làm bất đắc dĩ không thể nào khác được. Và như vậy có thể coi lễ cấp sắc là một thông điệp để con cháu báo cáo với tổ tiên rằng họ đã làm tròn đạo hiếu nối nghiệp tổ tiên.
Then nói chung chịu sự tác động của Tam giáo mà chủ yếu là Đạo giáo thông qua giáo lý của thầy Tào, một dạng thầy cúng có gốc gác từ vùng nam Choang Trung Quốc. Điều này thể hiện rõ nhất qua lễ cấp sắc của các dòng Then, Pụt có sự tham gia chủ đạo của thầy Tào người được coi là thầy cha của đệ tử, thay mặt Ngọc Hoàng Thượng đế đứng ra cấp sắc cho đệ tử. Điều này phản ánh sự giao lưu hội nhập các yếu tố bên ngoài vào trong tín ngưỡng của người Tày, Nùng. Tuy vậy, khác với Đạo giáo chính thống là truyền đạo theo môn phái, các ngành thầy cúng của người Tày, Nùng nói chung trong đó có Then lại truyền nghề theo gia tộc. Tính gia tộc được thể hiện ở hai khía cạnh: Một là gia tộc tổ tiên của chính bản thân người thầy cúng, hai là gia tộc của ngành cúng mà ở đó người thầy cúng là một thành viên có ngôi thứ và địa vị nhất định trong mối tương quan với những thành viên khác. Một gia đình ngành Then sẽ có đủ thầy cha (thầy Phù thuỷ hoặc thầy Tào), thầy mẹ (Then hoặc Pụt) và cũng có các thứ bậc anh chị em, bác bá theo những quy định nhất định mà ở chương 2 đã trình bày. Vì vậy điểm giống với thờ cúng tổ tiên là họ cũng phải thờ các thầy cha, thầy mẹ của mình khi các vị này quá cố gọi là thờ tổ sư. Tuy nhiên điểm khác với việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình là người làm Then, Pụt có thể có từ một tới nhiều thầy cha, thầy mẹ trong trường hợp họ muốn tăng sắc mà chẳng may thầy cha, thầy mẹ của họ đã qua đời, buộc họ phải mời người khác thay thế. Thờ cúng tổ sư là đối tượng chủ yếu và quan trọng nhất, trở thành nguyên tắc hành nghề của Then. Trong thực tế, trong quan niệm của các thầy cúng người Tày thì tổ sư bao gồm những vị tiền bối có hành nghề cúng bái của gia đình qua các thế hệ và các vị thầy cha, thầy mẹ trực tiếp làm lễ cấp sắc, tăng sắc cho họ. Nói cách khác thờ tổ sư trong Then cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên. Điều này thể hiện rõ ở hầu hết mọi dòng Then ở chỗ mỗi người làm nghề Then đều phải nhớ đủ danh sách tổ tiên làm nghề của gia đình mình và thầy cha, thầy mẹ của mình để thờ phụng tại nhà cũng như khi đi hành lễ. Dòng Then khu vực Chợ Mới, Bắc Kạn khi đi hành nghề phải mang theo bức tranh thờ tổ sư gia truyền của gia đình để treo trước đàn cúng biểu thị sức mạnh và binh lực của tổ sư - tổ tiên luôn luôn đi theo trợ giúp cho họ. Vì vậy, trong lễ cấp sắc thầy Tào ở đây có trách nhiệm phải lập cho đệ tử toàn bộ danh sách các vị tổ sư trong gia đình của người đó.
Như vậy có thể nói rằng, mặc dù chịu sự chi phối bởi giáo lý Đạo giáo qua các hình thức khác nhau nhưng về cơ bản tục thờ cúng tổ tiên mà cụ thể ở đây là thờ tổ sư nghề vẫn là cốt lõi trong thờ cúng của Then, Pụt.
Ngoài ra, thế giới tâm linh của người Tày, Nùng còn được thể hiện qua những lễ vật mang tính tượng trưng hồn nhiên, mộc mạc trong Then. Số mệnh con người được hình dung như một cái cầu, muốn trường thọ khoẻ mạnh thì phải sửa sang lại cầu cho chắc chắn. Tuổi thọ và sức khoẻ của người già được gắn với bồ gạo, muốn người già sống lâu thì phải bù cho bồ gạo đầy thêm. Các lễ vật trong Then đều ít nhiều được biến hóa theo trí tưởng tượng của họ: Quả bí xanh hình dung là con lợn, hoa chuối rừng là con gà trống; chiếc thuyền bẹ chuối là tượng trưng cho đoàn thuyền loan thuyền phượng; tảng bột nặn- thậm chí là một chiếc bánh chưng bọc giấy màu cũng được hình dung là quả núi Su-mi là quả núi thiêng của thần phật trên trời. Thậm chí, binh mã -một lực lượng khá điển hình lại được tượng trưng qua gạo (như hiện tượng chia gạo tượng trưng cho việc phân binh mã trong lễ cấp sắc), v.v... Đây là những hình tượng rất phổ biến trong Then, Pụt.
Nói tóm lại, Then đã hiện thực hoá thế giới tâm linh của người dân Tày. Chính vì vậy mà Then đã trở nên gần gũi, gắn bó với đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người dân Tày qua nhiều thế hệ.  
2. Then phản ánh xã hội của người tày trong quá khứ
Ra đời và phát triển lâu dài trong lòng dân tộc, Then chứa đựng trong nó những dấu ấn về lịch sử xã hội người Tày của một thời quá khứ. Điều đó được thể hiện rõ nhất qua diễn xướng Then và đặc biệt là văn bản lời hát Then. Trải qua những thăng trầm của thời gian và sự biến cải bởi phương thức truyền miệng nhưng về cơ bản diễn xướng Then trong đó có lời hát Then vẫn giữ được những nội dung phản ánh ban đầu mà dưới đây xin được giới thiệu từng khía cạnh một.
Ra đời trong dân gian, gắn với đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của dân gian nên lời hát Then là sự phản ánh chân thực cuộc sống của người dân miền núi mà trước hết là môi trường tự nhiên xã hội của người Tày. Đó là môi trường miền núi với đặc trưng là nền kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc được phản ánh khá rõ trong hành trình Then mang lễ vật lên mường trời. Có thể nhận thấy làng bản và cuộc sống sinh hoạt lao động sản xuất của người dân Tày hiện lên rất quen thuộc trong Then: đầu bản có giếng nước nguồn, trên cánh đồng có nơi thả vịt, có đàn lợn, đàn trâu thả rông, v.v... Một số thầy Then đã sơ đồ hoá con đường lên mường trời của họ mà qua đó mường trời hiện lên chẳng khác gì mường đất nơi mà họ sinh sống như là sự lộn ngược của thế giới trần gian. Nó cũng bao gồm cảnh vật, rừng núi, chim muông, sông suối, chợ búa buôn bán làm ăn chẳng khác gì dưới trần. Nhiều chương đoạn trong lời hát Then đã miêu tả khá sinh động về một không gian miền núi đầy chất hoang dã thuở trước: Núi rừng thâm u rậm rạp nhiều thú hoang, rắn rết, ve kêu vượn hót, đường đi khúc khuỷu, lên thác xuống ghềnh, v.v... Lễ vật mà họ mang lên cúng tiến mường trời là những sản vật họ tự nuôi trồng, săn bắt hoặc hái lượm được mà qua đó đã phản ánh được phương thức lao động sản xuất của họ. Lễ hội của Then, Pụt về nguồn gốc là sự phản ánh ước nguyện về một cuộc sống dân an vật thịnh mà biểu trưng là cả đám đông tưng bừng nhảy múa xung quanh cây hoa vũ trụ trong các lễ hội của người Thái nay vẫn còn tìm thấy qua nghi thức múa đá hoa suôi suông quanh cây hoa hào quang trong Then của người Tày. Ngoài ra, các trò diễn mô phỏng đời sống lao động sản xuất và săn bắn trong lễ hội Then, Pụt cũng phần nào nói lên sự gắn bó của Then với môi trường tự nhiên và xã hội của người Tày.
Được nuôi dưỡng và phát triển trong dân gian nên trước hết Then là sự phản ánh những tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân qua nhiều thế hệ. Đó là những mong muốn rất bình dị của người nông dân: có thóc gạo, trâu bò, gà vịt đầy nhà, cha mẹ già trường thọ, gia đình hoà thuận yên vui, con cái hiếu thảo trưởng thành. Đối với những người làm nghề cúng bái thì làm nghề được linh nghiệm, được dân làng tín nhiệm mang lại vẻ vang cho gia tộc. Những ước nguyện này được thể hiện chủ yếu qua lời cầu khấn và qua nội dung từng nghi lễ cụ thể, ví dụ qua các lễ kỳ an đầu năm, lễ chúc thọ cho cha mẹ, lễ cúng tạ Mẹ Hoa, các lẩu Then, Pụt v.v... Ngoài ra, trong Then còn có khá nhiều nội dung phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội và đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người. Thông qua nghệ thuật ngôn từ Then đã khắc họa nên những hình tượng nhân vật tương phản: Trai đần- trai giỏi, gái lười – gái chăm với ý nghĩa răn đe dạy dỗ người đời. Để khuyên răn con cái hiếu thảo với cha mẹ, Then ca ngợi tình mẫu tử qua kể chuyện thằng cu Vỉnh. Để khuyên răn chị em gái, mẹ chồng nàng dâu không nên cãi lộn tranh vợ cướp chồng, Then kể về cuộc sống buồn tẻ cô quạnh của họ sau khi chết trên mường trời. Để ca ngợi tình nghĩa vợ chồng thuỷ chung, Then miêu tả cuộc chia tay đầy cảm động của một đôi vợ chồng suông trong chương Suôi suông (tức Khảm hải – Vượt biển), v.v... Then cũng tỏ bày lòng cảm thông sâu sắc với những số phận không may mắn như những người tật nguyền, người chết thảm, những trẻ mồ côi, những cô gái xinh đẹp nhưng bị ép duyên hoặc phận mỏng, v.v... Nội dung này chủ yếu được thể hiện trong lời Then thuộc lớp cổ, chẳng hạn như trong lời Then Bắc Kạn, có nhiều điểm tương đồng với lời của Pụt Nùng và lời hát trong lễ hội Nàng Hai cầu mùa, giàu chất dân gian mà ít từ Hán Việt.
Như vậy, thông qua nghệ thuật ngôn từ, Then đã hội tụ được trong nó những giá trị văn học dân gian truyền thống của dân tộc Tày như các thể loại chuyện kể, truyền thuyết, các câu thành ngữ tục ngữ đã được chau chuốt, gọt giũa, v.v...mà qua đó đã làm sáng rõ được nhân sinh quan cũng như các quan niệm đạo đức của người dân Tày. Điều cần nhấn mạnh ở đây là thông qua hình thức phê phán, khuyên răn, ca ngợi kết hợp với đặc điểm diễn xướng kể chuyện bằng hình thức hát có đệm đàn của mình, Then thực sự đã đạt được hiệu quả cao trong giáo dục cộng đồng mà không phải hình thức tuyên truyền nào cũng làm được.
Ngoài ra, Then còn phản ánh hiện thực cuộc sống của người dân trong xã hội có giai cấp. Nội dung này thể hiện khá rõ ở khu vực Then có sự giao lưu mạnh với yếu tố Kinh như Then Cao Bằng, Lạng Sơn gắn với thời kì triều đình phong kiến nhà Mạc cát cứ ở đây. Trong Then chế độ vua quan áp bức dân lành được thể hiện rõ nhất qua nạn bắt phu phen, tạp dịch. Chính vì vậy mà nhiều bài viết trước đây đã tập trung phân tích Then như là một sự phản ánh hiện thực cuộc sống lầm than của người dân Tày thuở trước, tựa như là kiếp sống người nô lệ. Đó là cảnh vua quan hà hiếp dân đen trong nạn bắt phu qua lời Then Khảm hải (Vượt biển). Đó là cảnh đi sứ đầy gian nan vất vả được phản ánh trong văn bản lời Then Pây sử (Đi sứ). Ngay cả việc dâng lễ vật cống nạp các vị thần linh cũng là một cách hiện thực hoá từ các hình thức cống nạp của người dân đối với các tầng lớp vua quan. Hoặc như ngay trong bản thân diễn xướng Then cấp sắc ở Cao Bằng cũng phần nào nói lên một phần xuất xứ về hoàn cảnh ra đời của Then ở đây. Đó là cảnh nhập đồng đã được cung đình hoá trong các nghi thức múa chầu, trong cung cách và lời nói của các vị tướng nhập nói tiếng Kinh, qua cách dâng lễ, v.v... Cách thức tập hợp binh mã của Then cũng là sự mô phỏng hoá cách thức tập hợp quân đội của triều đình. Trong tờ sắc mà các thầy Phù thuỷ cấp cho các bà Then ở khu vực miền tây Cao Bằng còn quy định rõ các đơn vị quân sĩ mà bà Then được cấp theo đơn vị và cách gọi của triều đình phong kiến. Ví dụ bà Đàm Thị Đ. ở Nà Vài, Bế Triều được cấp: Hộ binh ngũ đội, vệ binh ngũ đội, tiến binh ngũ đội, hậu binh ngũ đội, tả binh ngũ đội, hữu binh ngũ đội, hiệu binh ngũ đội, tượng binh 4 thớt, mã binh 8 đội.v.v... Điển hình nhất trong việc lấy chuyện thực để giải quyết việc âm được thể hiện trong Then đi sứ (pây sử). Theo giải thích thì người ta phải làm lễ này khi mà một người nào đó bị lở loét mẩn ngứa lâu ngày không chữa khỏi hoặc bị tai nạn, thầy bói cho rằng đó là do bà mẹ “sử” oán trách vì lâu ngày không lễ lạt cống nạp bà. Bà mẹ sử ở tận Bắc Kinh (Trung Quốc)?, trong lễ vật dâng cúng phải có đôi gà vịt với ý nghĩa vịt cõng gà vượt biển, v.v... Tuy giải thích như vậy nhưng lời lẽ nội dung trong văn bản lại là sự miêu tả đoàn quân triều đình đi cống sứ ở nước Tàu. Trong văn bản còn trích dẫn các cuộc đối đáp của quân Then (quân triều đình) với đám lính canh cửa biên giới bằng tiếng quan hoả (Then gọi là tiếng Hác). Sự lẫn lộn giữa thực và hư, hư và thực trong Then còn thể hiện ở chỗ con đường đi sứ của các thầy Then lại trùng với con đường đi lên trời của các thầy Then, chỉ đến ngã ba nơi giao nhau của các con đường đi lên các cửa khác nhau thì đường đi sứ mới tách ra theo con đường riêng để đi tới Bắc Kinh, là sự lẫn lộn giữa mường trời - ảo với mường đất thực - Bắc Kinh (xem phụ lục sơ đồ đường đi của Then Quảng Uyên). Như vậy tuy trong Then không nói rõ chuyện đi sứ xuất hiện vào thời điểm nào trong lịch sử nhưng đây là một thực tế chứng minh rằng Then là sự phản ánh xã hội thời kì phong kiến gắn với việc cống nạp nước lớn phong kiến phương bắc kèm theo nạn bắt phu phen tạp dịch đầy bất công ngang trái. Mặt khác, cũng có thể do có sự chồng xếp các sự kiện mới cũ mà trong Then còn xuất hiện những lớp từ mới khá hiện đại như dùng từ pít-tông để mô tả cảnh Then mời thợ làm lò rèn đúc dao cuốc để làm đường đón tướng xuống trần gian (từ pít-tông có lẽ là một từ mới xuất hiện sau khi thực dân Pháp vào Việt Nam?).
Bên cạnh hiện thực hoá đời sống khổ cực của người dân trong xã hội có giai cấp, Then cũng tỏ rõ thái độ phê phán và ý thức phản kháng của người dân đối với kẻ cầm quyền. Then mỉa mai châm biếm những kẻ làm quan “ăn trên ngồi trốc” ngồi mát đánh bát đầy, Then phê phán thói hư tật xấu của họ như ham chơi, mê gái đẹp, tham lam, v.v... Qua đó Then ca ngợi phẩm chất cao quý của người lao động: trọng việc nghĩa, giữ chữ tín, thuỷ chung như nhất, v.v... Cũng qua Then, bộ mặt thật của xã hội phong kiến với những tệ tham quan ô lại, ăn của đút lót, dối trên lừa dưới ở chốn quan trường phần nào cũng được phơi đầy.
Như vậy, xét về mặt nội dung Then chuyển tải trong nó những thông điệp của một thời quá khứ. Ngày nay, nhiều vấn đề trong Then không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại song những giá trị nhân bản trong giáo dục đạo đức thì vẫn mãi mãi có giá trị. Mặt khác, nghiên cứu diễn xướng Then nói chung trong đó có văn bản Then chắc chắn sẽ là một trong những hướng tiếp cận đóng góp cho việc tìm hiểu một cách sống động hiện thực đời sống xã hội của người Tày trong quá khứ.
3. Then tích hợp các giá trị văn hoá của người Tày 
Trước hết với tính chất là một lễ hội của nghề Then, Then cấp sắc đã phản ánh được trong nó nhiều nét đẹp trong truyền thống văn hoá của người Tày. Đó là tinh thần cộng đồng, sự đoàn kết tương trợ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và rộng ra là trong làng bản. Để có được một lễ cấp sắc, bản thân thầy Then và gia đình thầy phải nhờ đến sự trợ giúp về công sức của nhiều người không chỉ trong gia đình, dòng họ mà trong cả bản làng của thầy. Sự giúp đỡ hồn nhiên, vô tư cũng như sự cổ vũ nhiệt tình và trân trọng của cộng đồng đối với thầy Then đã chứng tỏ rằng Then có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của người Tày. Qua đó có thể thấy rằng đối với đồng bào Tày nói chung thì nghề thầy cúng trong đó có Then là nghề cứu nhân độ thế, những người làm nghề chân chính luôn nhận được sự trân trọng của mọi người. Việc một đệ tử được cấp sắc thì đó không chỉ là niềm vinh dự và tự hào của gia đình, dòng họ mà còn là niềm tự hào của cả bản làng nơi người đó cư trú vì điều đó có nghĩa là bản họ đã có thêm một vị “quan” và thêm một lực lượng âm binh gìn giữ sự bình an cho dân bản. Vì vậy sau nghi thức cấp sắc, một thủ tục không thể thiếu được là họ hàng, anh em, bè bạn sẽ lần lượt đến vái tạ người đệ tử, tặng họ quà và các phong bao với ý nghĩa vừa là chúc mừng vừa là giúp đỡ thêm cho họ một phần kinh phí. Đặc biệt, đây còn là dịp các học trò hoặc con nuôi (những người được thầy cứu giúp) bày tỏ lòng biết ơn với thầy nếu đó là dịp tăng sắc của thầy. Các món quà mà họ mang đến tặng thầy ngoài ý nghĩa vật chất còn thể hiện tình nghĩa thầy trò thấm nhuần tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” trong tâm lý người Việt Nam nói chung. Có thể nói, tuy là một việc mang tính chất cá nhân nhưng lễ cấp sắc thực sự là một ngày hội vui của làng bản. Giống như các lễ hội truyền thống mang tính chất cộng đồng khác, đến đây người ta không những thoả mãn nhu cầu về tinh thần (thưởng thức nghệ thuật dân gian dân tộc) mà quan trọng họ còn được thoả mãn về nhu cầu tâm linh (được thánh thần ban phát lộc). Những người bình thường đến dự lễ thì cầu may mắn, người ốm đau bệnh tật thì hy vọng được khoẻ mạnh.
Tinh thần tôn sư trọng đạo là nét đẹp văn hoá khá nổi bật thể hiện trong lễ cấp sắc của người Tày. Với lễ cấp sắc, cùng với sự trợ giúp và đỡ đầu của thầy cha (Tào) và thầy mẹ (Then) người đệ tử như đứa trẻ mới được sinh ra, được thầy cha và thầy mẹ chia sẻ binh quyền để đi hành nghề, tình nghĩa đó thật thiêng liêng. Có người còn giải thích việc cắt đôi dải vải nối giữa thầy Tào và thầy Then là tượng trưng cho việc “cắt rốn” của đứa trẻ mới sinh! Vì vậy, trong tình thầy trò của các thầy Then còn bao hàm tình cảm cha mẹ với con cái. Khi người đệ tử được cấp sắc tức là họ đã chính thức gia nhập vào gia đình dòng cúng với các mối quan hệ theo kiểu gia đình có cha (thầy cha), mẹ (thầy mẹ), anh (sư huynh), em (sư đệ), v.v... Nghi thức mời thầy vào nhà với các thủ tục long trọng là một nghi thức khá đặc sắc thể hiện sự biết ơn và kính trọng thầy được thể hiện trong Then cấp sắc ở một số địa phương như Bắc Kạn. Sau khi xong thủ tục cấp sắc, mũ áo và vật dụng hành nghề, có một nghi thức không thể thiếu là người đệ tử lạy tạ các thầy cha, thầy mẹ, tặng lại miếng vải hồng (quá hồng) làm khước cho các thầy của mình. Từ sau lễ cấp sắc trong danh mục tổ sư của họ có ghi tên tổ sư của thầy cha đã cấp sắc cho họ, luôn luôn được họ mời đi theo hành nghề. Trong các dịp nhà thầy có việc lớn hoặc các dịp lễ tết và khi thầy qua đời, người học trò có trách nhiệm giống như con cái trong gia đình thầy. Họ tin rằng sau khi qua đời, thầy và âm binh của thầy vẫn tiếp tục phò tá cho họ trong các lễ Then, họ vẫn thường mơ thấy tổ tiên và các sư phụ uốn nắn, chỉ bảo họ cách hành nghề giống như khi các vị đó còn sống. Và như vậy, lễ cấp sắc đã thiết lập nên một mối quan hệ cao hơn cả quan hệ thầy trò - đó là quan hệ vừa là thầy vừa là cha mẹ, vừa là trò nhưng cũng vừa là con cái mà qua đó rất có tác dụng đối với việc giáo dục truyền thống tôn sư trọng đạo cho thế hệ trẻ với ý nghĩa “không thầy đố mày làm nên”.
Một thể hiện có ý nghĩa khác trong Then là nó đã phản ánh được một nét đẹp trong văn hoá ứng xử của người Tày đó là sự tôn trọng vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Gia đình người Tày nói chung là kiểu gia đình tiểu phụ quyền, người đàn ông có vai trò quyết định những việc lớn trong gia đình nhưng dựa trên sự tôn trọng ý kiến của người vợ. Lòng biết ơn và sự tôn trọng người vợ được thể hiện qua một số nghi thức điển hình trong Then cấp sắc Bắc Kạn: Khi thầy Then (nam giới) nhận lễ cấp sắc thì bên cạnh anh ta phải có người vợ ngồi chứng kiến, các đồ lễ mà anh ta nhận được từ thầy trao cho như quạt, ấn, xóc nhạc, v.v.. lần lượt được bỏ vào vạt áo trước của bà vợ với ý nghĩa rằng rồi đây người vợ sẽ làm nhiệm vụ thắp hương và trông coi bàn thờ ở nhà để anh ta đi hành nghề. Một thể hiện nữa là khi thầy Then được tặng quà và phong bao, anh ta sẽ đưa lại hết cho người vợ ngồi cạnh với ý nghĩa “của chồng công vợ”.
Mở rộng ra khi xem xét các lễ Then thường (Then đi hành nghề) thì còn thấy được ở đó các giá trị thuộc về đạo đức, lối sống gắn với những truyền thống văn hoá lâu đời của người Tày. Chẳng hạn như truyền thống yêu già kính trẻ là một trong những nét đẹp nổi bật trong văn hoá ứng xử được thể hiện khá rõ trong các nghi lễ Then kỳ yên, giải hạn. ở Then kỳ yên đầu năm người ta thường kết hợp với việc làm lễ giải hạn cho ông bà, cha mẹ nếu họ đã đến tuổi xung tuổi hạn, đồng thời làm lễ cúng Mẹ Hoa cho trẻ em nếu gia đình có trẻ em dưới 10 tuổi. Ngoài ra trong Then có khá nhiều nghi lễ liên quan đến người già như lễ mừng thọ cho cha mẹ với các tục vần khẩu lường là tục thể hiện sự cầu mong ông bà cha mẹ trường thọ qua tục con cháu đổ thêm gạo vào bồ với ý nghĩa bù gạo để người già có thêm lương thực ăn để trường thọ. Đặc biệt tục quan tâm bà mẹ và trẻ em được thể hiện qua hàng loạt các nghi lễ liên quan đến việc sinh đẻ của người phụ nữ, từ khi hoài thai cho đến khi đứa trẻ ra đời tới khi lên mười tuổi, v.v... Các nghi lễ này ngoài yếu tố tâm linh ra còn thể hiện được sự quan tâm trân trọng của gia đình, con cháu, họ hàng và cả bè bạn đối với những đối tượng cần sự quan tâm của xã hội như người già, trẻ em, phụ nữ. Rõ ràng là so với các hình thức mới như mừng thọ, mừng đầy tháng có ăn uống linh đình nhiều khi gắn với mục đích kinh tế thì các nghi lễ Then mang tính truyền thống có cội rễ lâu bền hơn trong đời sống tinh thần người Tày. Chính vì vậy dù còn có điểm này điểm khác cần phải bàn thêm nhưng có thể nói rằng nghi lễ Then là sự tích hợp trong nó những truyền thống văn hoá tốt đẹp của người Tày.
Mặt khác, Then là sự hội tụ những tài hoa nghệ thuật trong dân gian. Những thầy Then bằng công việc của mình đã góp phần đắc lực vào việc phổ biến và lưu truyền nghệ thuật biểu diễn Then từ đời này sang đời khác. Nếu như trong lễ Then thường, các nghệ nhân chỉ biểu diễn chính là đàn và hát thì trong Then cấp sắc họ đã thực sự thể hiện hết mình thông qua các hình thức biểu diễn khác như múa, diễn trò, nhập đồng... Đặc biệt ở đây phải kể đến các điệu múa trong Then. Chỉ có thông qua lễ cấp sắc người xem mới thực sự được thưởng thức hết vẻ đẹp tinh tế, sự phong phú và cuốn hút của các điệu múa dân gian Tày. Và vì vậy, cũng có thể nói rằng Then đại lễ trong đó có Then cấp sắc là một diễn xướng góp phần lưu giữ những giá trị văn hoá nghệ thuật tinh tuý của người Tày.
Then nói chung và đặc biệt là Then cấp sắc nói riêng là sự tập trung cao độ nghệ thuật nguyên hợp của người Tày với sự tham gia của nhiều thành tố nghệ thuật khác nhau mà tiêu biểu là nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn cộng với môi trường diễn xướng mang đậm màu sắc tâm linh.
Sự phối kết hợp các thành tố trong nghệ thuật biểu diễn như hát, nhạc (đàn tính, xóc nhạc), xướng, múa, trò diễn, v.v... một cách đan xen, hoà nhập đã tạo nên một hình thức nghệ thuật biểu diễn Then khá đặc trưng của người Tày. Có thể tìm thấy sự phong phú đa dạng từ ngay trong mỗi thành tố của nghệ thuật biểu diễn. Âm nhạc trong Then là sự hội tụ các làn điệu dân ca của từng địa phương dân tộc Tày. Vì vậy Then của mỗi địa phương là sự phản ánh những sắc thái và phong cách biểu diễn của từng địa phương. Then cấp sắc là một nghi lễ tập trung đông đảo các nghệ nhân cùng cùng tham gia biểu diễn với tính chất tập thể sẽ là một dịp để các thầy Then trổ hết tài nghệ cùng khả năng biểu diễn nghệ thuật của mình qua các thể loại độc tấu, song tấu, hoà tấu, hỗn tấu, v.v... Vì vậy thông qua diễn xướng Then người thưởng thức sẽ dễ dàng nắm bắt được đặc trưng cũng như phong cách biểu diễn của từng dòng Then. Chẳng hạn, phong cách biểu diễn của các thầy Then nam miền đông Cao Bằng mạnh mẽ, tự tin với những tiết tấu âm nhạc nhanh mạnh, phóng khoáng trong khi Then miền tây giàu nữ tính nên nhẹ nhàng sâu lắng thiên về tâm tình tự sự... Trong múa cũng có nhiều điệu múa gắn với từng khoa mục cụ thể góp phần làm tăng sự biểu cảm của từng nội dung nghi lễ. Biểu hiện cụ thể của yếu tố sân khấu trong Then là các trò diễn nghi lễ được thể hiện đan xen giữa các lớp lang của nội dung diễn xướng. Giống như các loại hình nghệ thuật khác, mỗi trò diễn ở đây đều hàm chứa trong nó các yếu tố tâm linh (thuộc về nghi lễ tôn giáo) và yếu tố thẩm mỹ (thuộc về nhu cầu thưởng thức). Tuỳ vào từng khoa mục cụ thể mà mức độ thể hiện đậm nhạt của từng yếu tố có khác nhau. Nhìn chung, các trò diễn trong Then đều có chủ đề cụ thể và đạt các mức độ tiêu chuẩn sau: Diễn có nhân vật, diễn có nội dung và diễn có lời thoại.
Trong diễn xướng Then, ngoài các thủ tục nghi lễ, phần nội dung hành lễ được dẫn dắt chủ yếu qua lời hát Then tức là văn bản hành lễ. Đó cũng là phần nội dung quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ một cuộc làm Then, dẫn dắt nghi lễ Then từ đầu đến cuối. Về hình thức, lời hát Then chủ yếu được sáng tác theo thể loại thơ hoặc văn vần mà dựa trên đó thầy Then có thể hát, xướng, đọc hoặc tụng niệm. Then cấp sắc kéo dài trong nhiều ngày nên nội dung văn bản cũng dài hơn và phong phú hơn so với lễ Then thường. Ta biết rằng 3 yếu tố lời thơ, giai điệu hát và nhạc đệm ở trong Then có quan hệ chặt chẽ với nhau: Lời thơ dùng để hát, giai điệu của lời hát được căn cứ vào từng thể thơ còn nhạc đệm thì phụ thuộc vào giai điệu của lời hát. Như vậy, lời thơ là một thành phần quan trọng tạo nên nghệ thuật biểu diễn âm nhạc Then. Có lẽ vì vậy mà các nghệ nhân Then Cao Bằng đã có đặt tên cho một số làn điệu Then trùng với nội dung của các khoa mục, như: Pây mạ (ngựa đi đường), Sắp binh (sắp binh mã), Khẩu tu pháp (vào cửa vua)1, v.v...Thơ trong Then chủ yếu là thể thơ 5 chữ và 7 chữ, có khi từng thể thơ đứng riêng rẽ theo từng khoa mục nhưng cũng có khi xen kẽ giữa cả hai thể thơ trong cùng một khoa mục. ở thể thơ 7 chữ, chữ thứ bảy của câu trên vần với chữ thứ năm của câu dưới. Đây là cách gieo vần phổ biến trong hát Then nói chung. Ví dụ một đoạn trong mục Khảm hải:
                  Nặm kim páy mì lừa đảy khám
                  Nặm kim páy mì táng đảy chai
                  Mì lừa páy mì phài đảy quá
                  Bấu hăn lừa mà thả rắc ăn...
Các mục thường dùng thể thơ 7 chữ là: Sắp binh mãKhao binh mã, Tắm hoa, Khảm hải, Lục soát vía hào quang, Bắc cầu hào quang, Suôi suông đá hoa.
ở thể thơ 5 chữ, chữ thứ năm của câu một vần với chữ thứ ba của câu thứ hai. So với thể thơ 7 chữ, thể thơ này ít đứng độc lập mà thường đứng xen kẽ với câu 7 chữ theo lối tự do tuỳ từng nội dung cần biểu đạt mà không tuân theo một trật tự nhất định nào. Chẳng hạn, trong một khoa mục có thể thấy một câu 5 chữ xen một câu 7 chữ hoặc hai, ba, bốn... câu 5 chữ xen với ba, bốn... câu 7 chữ, v.v... Dưới đây là trích một đoạn thể thơ xen kẽ 5 chữ và 7 chữ trong mục Cuốn cỗ bàn:
...Nhằng đảy lồng áng noọng
 Nhằng đảy lồng áng nàng
 Tằng pi nả pi lăng nhằng rang áng cộ
 Nhằng đảy khám nặm bó lai pi
       Nhằng đảy lủc rú  lai thắn
Phạ quét rủng pền đao
Bân quét khao pền bióc
Rủng oóc pền niêng hỏi
       Chỏi oóc pền tha vằn...
 Đây là thể thơ phổ biến trong lễ cấp sắc, có mặt ở hầu khắp các khoa mục. Ngoài ra thỉnh thoảng còn xuất hiện thể thơ tự do 8, 9, 10 hoặc 12 chữ xen kẽ giữa các thể thơ này. Sự linh hoạt chuyển đổi về số lượng câu, chữ và đặc biệt là ở cách gieo vần trong từng thể câu đã góp phần mở rộng và phát triển phong phú thêm giai điệu và tiết tấu âm nhạc của Then.
Lời ca trong Then còn là những áng thơ ca hay mang đậm yếu tố trữ tình vốn là đặc trưng cơ bản của văn học nghệ thuật Tày. Một trong những áng thơ ca hay nhất trong Then là khúc hát Suôi suông (Khảm hải) là khúc hát thường chỉ xuất hiện trong các đại lễ của Then, khi biểu diễn còn kèm theo múa và các động tác mô phỏng động tác chèo thuyền. Do vậy, từ lâu chỉ riêng chương Khảm hải đã được các nhà nghiên cứu khai thác tìm hiểu trên nhiều khía cạnh nhất là về mặt văn bản học. Ngoài ra, người ta còn có thể tìm hiểu nhiều khía cạnh thuộc về thủ pháp nghệ thuật thơ ca Tày thông qua việc phân tích văn bản lời hát Then. Từ trước đến nay các nhà sưu tầm chỉ chú ý tìm hiểu các văn bản Then trên cơ sở các khúc hát ở thể thơ là chính nên đã vô tình bỏ qua các thể loại văn học khác trong Then như: các đoạn văn xuôi, lời tụng niệm và các lời thoại của trò diễn, v.v... Theo tôi, một văn bản Then trọn vẹn phải bao gồm toàn bộ các thể loại văn học đã cấu thành nên nội dung hành lễ của Then. Phần văn xuôi, tuy xuất hiện không nhiều nhưng lại góp phần quan trọng trong việc dẫn dắt và chuyển tải nội dung chương trình hành lễ với hai loại chính là văn thoại và văn tụng niệm (văn khấn). Sự tham gia của thành phần văn xuôi vào trong Then đã làm phong phú, sinh động thêm nội dung hành lễ, nhất là thể văn thoại thường xuất hiện trong các khoa mục mang yếu tố sân khấu trò diễn. Thực tế văn bản lời hát trong lễ cấp sắc của mỗi dòng Then đều không hoàn toàn như nhau về nội dung và mức độ dài ngắn- cụ thể như ở khúc hát Khảm hải. Vì vậy, nghiên cứu tìm hiểu văn bản của lời hát Then trong lễ cấp sắc cũng là một việc làm góp phần để tìm hiểu những đặc điểm riêng của từng dòng Then để từ đó góp phần vào việc nghiên cứu thơ ca Tày.
Thông qua sự tham gia của các môn nghệ thuật trang trí, nghệ thuật tạo hình dân gian, Then cấp sắc đã thực sự khắc họa được sắc thái văn hoá tâm linh của dân tộc Tày. Đó là một thế giới hàm chứa sức tưởng tượng sinh động của dân gian về mối quan hệ giữa trời và đất, giữa cõi nhân gian và cõi người, giữa cõi đời thực và một thế giới siêu phàm ở bên ngoài. Qua đó, phần nào nó đã thể hiện được một phần sự trong trẻo, hồn nhiên và nguyên sơ trong thế giới tâm hồn của người dân Tày.
Ngoài ra,chi phối toàn bộ quá trình diễn xướng và nội dung diễn xướng là các nghi lễ mang đậm màu sắc tôn giáo đã tạo nên một môi trường diễn xướng nghi lễ Then khá đặc biệt. Có thể nói toàn bộ nghệ thuật diễn xướng Then đều không nằm ngoài sự tác động của các nghi lễ tôn giáo. Nói cách khác, nếu tước bỏ yếu tố nghi lễ tôn giáo- tức là tước bỏ đi sự huyền vi thiêng liêng của nó thì diễn xướng Then cũng không thể phát huy được hết các giá trị thẩm mỹ của mình. Theo tôi, môi trường diễn xướng nghi lễ tôn giáo Then được tạo bởi các yếu tố: không khí nghi lễ, không gian nghi lễ, cách bố trí hệ thống thờ cúng, phương thức hành lễ và cách thức tiến hành các thủ tục nghi lễ của thầy Then và những người phục vụ trong quá trình hành lễ...
Với sự phối hợp giữa các hình thức trình diễn trên có thể nói diễn xướng Then đặc biệt là Then cấp sắc đã huy động và thể hiện được trong nó những nghệ thuật trình diễn khá độc đáo của người Tày, Nùng. ở một số dòng Then, Pụt có sự bảo trợ của thầy Tào thì sự kết hợp giữa cách trình diễn trang trọng của Tào với sự vui tươi hồn nhiên của Then, Pụt còn là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố thiêng và yếu tố thuộc về nghệ thuật làm nên sự cuốn hút của lễ hội Then. Có thể nói cho đến nay các hình thức biểu diễn dân gian như múa, trò diễn, v.v... của người Tày, Nùng chỉ có thể tìm thấy ở một số lễ hội Then và Pụt mà đặc biệt là ở lễ cấp sắc.
Do ảnh hưởng của việc chuyển cư và nhất là do sự truyền nghề mà Then cũng có sự giao lưu trong các địa phương cư trú của người Tày. Hiện ở huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn có 2 dòng Then: Dòng Then Bắc Kạn chiếm đa số với đội ngũ hành nghề khá đông và dòng Then của Tràng Định, Lạng Sơn được truyền sang từ năm 1939 bởi bà Pụt Phần. Về các bước đi và nội dung từng bước của Then Lạng Sơn cũng tương tự như Then Bắc Kạn nhưng có sự khác nhau về cửa Then và trật tự sắp xếp các cửa Then. Chẳng hạn so sánh lễ giải hạn đầu năm của hai dòng Then này cho thấy có sự đảo lộn các đường Then, chẳng hạn ở Then Lạng Sơn cửa cuối cùng mà quân Then lên dâng lễ là cửa tu pháp còn Then Bắc Kạn là cửa Nam Tào Bắc Đẩu.
Hình thức diễn xướng Then cũng rất đa dạng phụ thuộc vào từng dòng, từng địa phương, thậm chí vào từng bản thân người hành nghề và cả giới tính người hành nghề. Nhìn chung các chương đoạn trong Then là cố định nhưng tuỳ từng nơi mà lời Then được thêm bớt dài ngắn khác nhau nên Then có rất nhiều dị bản. Giọng hát ở mỗi vùng lại chịu ảnh hưởng của các làn điệu dân ca khác nhau nên âm điệu cung bậc cũng khác nhau. Từ những năm 1970 các nhà sưu tầm Then ở Sở Văn hoá Khu tự trị Việt Bắc đã tiến hành khảo sát giọng hát của 30 nghệ nhân Then ở 20 địa phương khác nhau nhưng “không thấy địa phương nào hát giống địa phương nào”2. Cây đàn tính là dụng cụ độc đáo trong diễn xướng Then cũng được nghệ nhân từng nơi sử dụng một cách sáng tạo trong quá trình diễn xướng của mình. Tuỳ từng nơi mà giai điệu trong Then được thể hiện khác nhau. Ví dụ giai điệu trong Then Bắc Kạn, Thái Nguyên thiên về sự thì thầm trầm mặc, âm vực hẹp hơn so với Then Cao Bằng. Về tính đa dạng của âm nhạc Then Tày, gần đây đã được tác giả Nông Thị Nhình khảo sát và trình bày khá rõ.3
Như vậy, với đặc trưng riêng của mình, Then đã góp phần làm nên sự đa dạng phong phú về văn hoá nói chung ở các khu vực cư trú của người Tày.
4. Về khả năng chữa bệnh bằng liệu pháp tinh thần của Then
Xét về khả năng trị liệu của Then có thể xem xét trên hai đối tượng: Đối tượng thầy Then với tư cách là thầy pháp- thầy Shaman và đối tượng quần chúng với tư cách là những đối tượng trực tiếp được thầy Then chữa trị bằng liệu pháp tinh thần.
Nguyễn Kim Hiền qua bài “Lên đồng ở Việt Nam một sinh hoạt văn hoá tâm linh mang tính trị liệu” đã phân tích khá kỹ về một số đặc điểm của trị liệu lên đồng ở Việt Nam trên bình diện cá nhân, cụ thể là các ông bà Đồng4. Đối tượng này có nhiều điểm tương đồng với các ông bà Then nên có thể nói cách giải thích về khả năng trị liệu của Then cũng có một số điểm tương tự với với lên đồng. Thứ nhất, với đa số các thầy Then thì việc tham gia vào đội ngũ những người hành nghề cúng bái được coi như là một giải pháp quyết định để giải thoát khỏi bệnh tật, khỏi cơ đầy. Quá trình đến với nghiệp Then của họ thường trải qua các bước như sau: Bước đầu là những dấu hiệu bị tổ tiên bắt nối nghiệp biểu hiện qua những bất ổn về tinh thần hoặc ốm đau bệnh tật, gia cảnh gặp rủi ro, họ phải tìm đến các giải pháp như tìm thuốc hoặc đi bệnh viện chữa trị, xem bói hoặc cầu cúng, có người làm lễ khất; bước tiếp theo khi xác định rõ được căn nguyên bệnh tật và không thể cưỡng lại được số phận, người đó sẽ phải làm lễ báo với tổ tiên việc mình quyết định nối nghiệp thầy cúng của gia đình; tiếp theo là tìm thầy học nghề, đi theo phụ giúp thầy hành nghề; bước bốn là làm lễ cấp sắc tự đi hành nghề theo lời mời của các gia chủ. Trong khá nhiều trường hợp kể cả ở ngành Một của người Thái cũng như Tào, Then, Pụt của người Tày đều cho rằng chỉ ngay sau khi làm lễ báo cáo tổ tiên chấp nhận nối nghiệp là bệnh tình của họ đã thuyên giảm. Để lý giải một cách cặn kẽ cơ chế bệnh tật cũng như căn nguyên khỏi bệnh của các trường hợp trên đòi hỏi nhiều sự công phu cả về lý luận cũng như phân tích tâm lý học, y học, điều tra thực địa, v.v... Tuy nhiên có thể thấy rất có thể khả năng trị liệu của Then ở đây được đến từ niềm tin truyền thống của người làm Then và gia đình họ vào sự tồn tại của tổ tiên, một thế lực vô hình nhưng khá có quyền uy trong quan niệm của người Tày, Nùng. Khi nguyện vọng của tổ tiên được đáp ứng thì gánh nặng về tâm lý cũng được trút bỏ, họ sẽ được giải toả về mặt tinh thần cũng như thể xác. Điều này có cơ sở từ quan niệm phổ biến từ xa xưa của con người thường gắn những hiện tượng tâm lý bất thường với sự tác động của một lực lượng siêu nhiên nào đó ngoài con người. Như vậy, đối với đa số thầy Then thì việc quyết định nối nghiệp cúng bái của tổ tiên cũng là một cách để tự chữa bệnh cho mình hoặc cho người thân trong gia đình mình.
Khác với các ông bà Đồng, các ông bà Then sau khi trở thành thầy pháp nhiệm vụ chủ yếu của họ là làm nghề cúng bái thực hành các nghi lễ với tư cách “cứu nhân độ thế” theo tinh thần đạo Phật. Nếu các ông bà Đồng chỉ là cái giá để các thánh thần có tên tuổi trong điện thần về ngự thì các ông bà Then lại là một vị quan chức nhà trời có tên hiệu, phẩm trật, ấn tín, bằng sắc,v.v... được Ngọc Hoàng cho phép đi lại gặp gỡ các vị thần linh trong khắp thế giới 3 tầng, đôi khi họ cũng nhập hồn thần linh nhưng chỉ là một việc phụ. Nhiệm vụ chính của họ là giúp đỡ, chăm sóc quần chúng về mặt tâm linh. Chính trong nhiệm vụ này họ đã thể hiện được khả năng chữa bệnh bằng liệu pháp tinh thần của mình. Cũng theo Nguyễn Kim Hiền thì thời gian qua các thành tựu nghiên cứu của bộ môn nhân học trên thế giới đã khẳng định hiệu quả trị liệu thực tiễn của lên đồng. Việc đưa ra ba khái niệm khác nhau khi phân loại bệnh tật theo cách tiếp cận của nhà nhân học y khoa Mỹ Alain Young gồm ngoài loại bệnh y-sinh (bệnh thể chất) ra còn có bệnh cảm (bệnh tâm lý) và bệnh về phương diện xã hội- văn hoá đã cho phép người ta tiến hành các nghiên cứu về hiệu quả trị liệu cụ thể của bệnh trên góc độ văn hoá. Từ cơ sở này người ta cũng đã đưa ra hệ thống chăm sóc sức khoẻ mà trong đó cách trị liệu của lên đồng là thuộc lĩnh vực “folk” (không chuyên)5. Tựu trung lại trong Then đi hành lễ có hai loại chính là cầu an, giải hạn và chữa bệnh bằng cách chuộc hồn vía. Mục đích của các nghi lễ này là mang lại niềm tin và sự bình ổn trong tinh thần của người bệnh và gia đình. Đó cũng chính là kết quả trị liệu của Then. ở đây tôi xin đi vào trường hợp Then đi chữa bệnh mà đối tượng là những con bệnh thực sự. Mặc dù không có những luận giải một cách khoa học và rõ ràng nhưng trong quan niệm của các thầy Then cũng có sự phân biệt hai loại bệnh, một loại họ cho là bệnh “dương” tức là bệnh về thể xác (y sinh) và một loại là bệnh “âm” là loại bệnh tâm lý (bệnh cảm). Theo các thầy Then giàu kinh nghiệm cho biết thì họ thường chữa được loại bệnh tâm lý, thường là đi bệnh viện chữa không được hoặc không tìm ra căn nguyên bệnh tật. Trong cách chữa trị này thì yếu tố niềm tin (ở cả người bệnh và thầy Then) cùng phương thức hành nghề của thầy Then là hai yếu tố hỗ trợ quan trọng. Bằng thủ pháp nghệ thuật mang đặc trưnng riêng của mình, Then đã mang lại niềm tin cho người bệnh như là một sự giải toả tâm lý mà không phải loại hình cúng bái nào cũng làm được. ở đây thầy Then bằng tiếng đàn lời hát với những lời lẽ đầy tính thuyết phục cùng uy quyền của mình đã khiến cho người ta yên tâm tin rằng thần linh đã thấu tỏ và chấp nhận lời cầu xin của họ. Không những thế thầy Then còn hiện thực hoá những ước nguyện của họ bằng cách cho họ gặp gỡ giãi bày tâm sự với tổ tiên, nghe tổ tiên khuyên bảo, bằng việc làm cụ thể nối chiếc cầu mệnh số cho người đến tuổi xung hạn hoặc ra oai tróc nã quỷ thần, vỗ về tâm hồn yếu đuối của người bệnhv.v... Cũng cần nhấn mạnh rằng trong Then yếu tố âm nhạc lời ca cũng có vai trò quan trọng đem lại cảm giác thăng hoa không những cho người ngồi đồng (ông bà Then) mà còn cho cả người tham dự với tư cách là đối tượng được chữa bệnh. Việc kết hợp giữa niềm tin vào thần linh (sự linh thiêng của nghi lễ) với các sắc thái biểu cảm đa chiều của âm nhạc và lời ca đã có tác động trực tiếp tới trạng thái tâm thần của người bệnh, củng cố niềm tin cho họ vào kết quả chữa bệnh của thầy Then.
Có thể nói truyền thống chữa bệnh bằng cúng bái đã ăn sâu vào trong tâm lý và trở thành nỗi ám ảnh về một thế lực vô hình trong ý thức của người dân Tày. Vì vậy ngày nay để giải toả tâm lý nhiều gia đình vẫn kết hợp hai cách chữa bệnh vừa dùng thuốc trị liệu vừa chữa trị bằng lễ Then như một liệu pháp tinh thần nhằm mang lại sự bình ổn về tinh thần cho người bệnh và gia đình. Và như vậy đôi khi kết quả chữa bệnh lại đến từ cả hai phía. Chính vì vậy các nghi lễ cúng cho đối tượng người già và trẻ em như cầu an, giải hạn, chúc thọ, cúng Mẻ Hoa v.v... vẫn khá phổ biến trong đời sống người dân Tày. Và như vậy trong những trường hợp cụ thể thì việc chữa bệnh bằng liệu pháp tinh thần của Then là có thực và ít nhiều có những tác dụng nhất định trong đời sống của người dân. Đây cũng là một giá trị cần ghi nhận của Then.
5. một số vấn đề cần bàn thêm về Then
Sống giữa rừng núi hoang vu với bao sự đe dọa của thiên nhiên về thiên tai, hạn hán, sâu bọ, dịch bệnh, v.v... người dân miền núi nói chung trong đó có người Tày, Nùng không tránh khỏi sự sùng bái tự nhiên, tin tưởng vào các thế lực tự nhiên và ma quỷ. Một trong những biểu hiện rõ nhất là hiện tượng chữa bệnh bằng biện pháp tìm hồn vía lạc. Sự thiếu hiểu biết về khoa học cùng những bế tắc trong việc chữa trị bệnh tật đã khiến người dân hoàn toàn phó thác sinh mệnh cho các lực lượng siêu nhiên: ốm đau do hồn lìa xác đi lang thang gặp ma quỷ giữ lại, rủi ro hoạn nạn do tổ tiên quở trách, phụ nữ chậm sinh nở hoặc trẻ em ốm yếu, hữu sinh vô dưỡng là do thờ phụng Mẹ Hoa không đến nơi đến chốn, v.v... Ngày nay trình độ khoa học phát triển cao cùng với các tiến bộ về y học và vệ sinh phòng dịch đã có điều kiện đến với từng thôn bản người Tày, Nùng nhưng không phải đã hết người còn tin vào những phép màu của Then, Pụt. Điều đó nói lên rằng trong quá khứ việc cúng bái nói chung và cúng chữa bệnh trong Then, Pụt nói riêng đã từng được coi là một giải pháp cứu cánh trong quan niệm của người dân.
Vì những lý do trên, Then ít nhiều đã hình thành trong quan niệm của một số người dân nhất là ở lớp phụ nữ cao tuổi tư tưởng thần thánh hoá vai trò của Then, cho rằng Then có thể giải quyết được mọi vấn đề liên quan đến thần linh và ma quỷ. Vì vậy họ tin tưởng một cách tuyệt đối vào việc bói toán của các thầy cúng, gia đình có bất kỳ điều gì bất ổn cũng đi bói, có trường hợp ốm đau nhưng không chịu đi bệnh viện mà chỉ muốn mời thầy Then đến nhà giải hạn. Trong thực tế không thể phủ nhận vai trò của Then trong chữa bệnh bằng liệu pháp tâm lý nhưng phải xác định không phải bất kỳ bệnh nào Then cũng giải quyết được.
Ngoài ra hạn chế còn đến từ chính bản thân thầy Then. Do nhiều nguyên nhân, có thể là do nhận thức kém hoặc do trục lợi hoặc do cuồng tín mà dẫn đến có sự thần bí hoá nghề nghiệp của một số cá nhân lôi kéo những người cuồng tín làm giảm đi giá trị văn hoá của Then.
Hạn chế khác liên quan đến thủ tục nghi lễ. Nhìn chung so với các hình thức cúng bái khác kể cả so với Pụt là hình thức gần với Then thì Then là nghi lễ có nhiều thủ tục nhất, thời gian kéo dài hơn. Trung bình một lễ Then đi hành nghề phải thực hiện trọn một đêm kéo dài từ khoảng 9 giờ đêm hôm trước đến 4 giờ sáng hôm sau. Điều này không những ảnh hưởng đến sức khoẻ của người làm Then mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ và đảo lộn giờ giấc sinh hoạt của các thành viên trong gia đình gia chủ. Vì vậy việc xem xét có cần thiết phải kéo dài một nghi lễ như vậy hay không cũng là một vấn đề cần thảo luận trong việc bảo tồn và phát triển Then.
Vì ra đời trong xã hội cũ nên trong văn bản hành lễ của Then không tránh khỏi những giải thích tiêu cực cho rằng số phận con người là do trời định làm kìm hãm ý chí vươn lên vượt qua số phận của con người. Cũng như vậy, vì mang nặng tính chất nghi lễ nên âm nhạc trong Then có nhiều đoạn buồn thiên về an ủi, xoa dịu. Mặt khác, do trình diễn trong thời gian dài, các giai điệu cũng như lời hát thường trùng lặp dễ gây sự nhàm chán cho người tham dự.
Do phương thức truyền miệng, hành nghề không dùng sách nên không thể tránh khỏi tình trạng tam sao thất bản hoặc nhầm lẫn, hoặc thêm thắt bổ sung bởi những người trực tiếp hành nghề. Hiện tượng này dễ dẫn đến tình trạng không quy chuẩn trong diễn xướng Then cả về nội dung lẫn hình thức. Và như vậy giá trị của một diễn xướng Then cụ thể lại lệ thuộc vào chính bản thân thầy Then. Cùng là một nghi lễ Then như nhau nhưng với thầy Then giỏi, hành nghề có kinh nghiệm thì sẽ mang lại cảm giác thành công hơn so với một thầy Then kém, hát dở đàn tồi hoặc kém nhiệt tình. Đó cũng là một trong những đặc điểm trong phương thức hành nghề Shaman của Then.
Một biểu hiện tiêu cực khác là về một khía cạnh nào đó Then đã ủng hộ những phép ứng xử không lành mạnh trong xã hội. Then phơi bày bộ mặt xấu trong xã hội có giai cấp nhưng một mặt Then còn a dua theo. Có thể nói toàn bộ các nghi lễ Then, từ Then đại lễ đến các lễ Then thường đều có cùng một nội dung là lễ lạt, cống nộp các bậc bề trên để mưu cầu tư lợi. Đối với tầng lớp trên (mà Then là đại diện) thì cống nạp để mưu cầu thăng quan tiến chức. Trong Then cấp sắc nhắc đi nhắc lại nhiều lần nội dung người đệ tử làm cỗ bàn, lễ lạt thịnh soạn cống nạp Ngọc Hoàng và các vị thần linh để được phê chuẩn chức tước. Trong các lễ Then thường thì phản ánh nhiều nội dung người dân hối lộ thần linh để được ban phúc, ban lộc. Chẳng hạn như hối lộ Nam Tào Bắc Đẩu (tức ông vua số) để ông này phê duyệt kéo dài tuổi thọ, hối lộ Mẹ Hoa để mẹ cho nhiều con cái, v.v... Then nhấn mạnh nhiều đến yếu tố vật chất mà bỏ qua những giá trị tinh thần như là công lao học hành đèn sách, tu dưỡng đạo đức của người đệ tử, khả năng tự vươn lên chiến thắng số phận của con người, v.v...
Chú thích
1. Mấy vấn đề về Then Việt Bắc, Nhiều tác giả, Nxb Văn hoá dân tộc 1978, tr. 138.
2. Mấy vấn đề về Then Việt Bắc, Sđd, tr. 32.
3. Xem Nông Thị Nhình, Nét chung và riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày Nùng, Nxb Văn hoá dân tộc, 2004.
4. Xem “Lên đồng ở Việt Nam một sinh hoạt văn hoá tâm linh mang tính trị liệu”, Nguyễn Kim Hiền, bài in trongĐạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu á, Ngô Đức Thịnh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2004, tr. 350.
5. Xem “Lên đồng ở Việt Nam một sinh hoạt văn hoá tâm linh mang tính trị liệu”, Nguyễn Kim Hiền, bài in trongĐạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu á, Sđd, tr. 366 và tr. 367.
Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị gia bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia, bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa[2]. na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất bà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án Tất Điện Đô Mạn Đa Ra. Bạt Đà Dạ, Ta Bà Ha.
Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có một bức tranh vô cùng nổi tiếng trong loại tranh thờ đó là "Ông Hoàng cầm quân".Bức tranh đã miêu tả một vị thánh đại diện cho một hàng trong Tứ Phủ đó là các Ông Hoàng hay Quan Hoàng.Cũng như hàng Quan Lớn ,các Ông Hoàng cũng đều là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng . Hàng Ông Hoàng gồm:

01- Ông Hoàng Cả ( Thượng Thiên )
02- Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn ( Người Nùng )
05- Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc
06- Ông Hoàng Tư
07- Ông Hoàng Năm
08- Ông Hoàng Bảy ( Bảo Hà )
09- Ông Hoàng Bát