12 November 2011

NGUYÊN NHÂN CÓ PHÁP HẠNH PHÚC



NGUYÊN NHÂN CÓ PHÁP HẠNH PHÚC

Hai mươi sáu thế kỷ trước đây, nghĩa là trước khi Đức Thế Tôn thành đạo, có phong trào tìm hiểu chân lý chung quanh con người và kiếp sống của con người. Các nhà hiền triết ra sức giải đáp những câu hỏi sau đây:

- Người từ đâu sanh đến?

- Tại sao lại chết?

- Chết rồi sanh đi đâu?

- Tại sao người giàu sang, nghèo hèn khác nhau?

- Làm sao tìm được hạnh phúc?

Do cách giải đáp những câu hỏi đó mà sanh ra nhiều Tôn giáo, tùy theo kiến thức và quan điểm của các vị giáo chủ dẫn giải hấp dẫn tín đồ.

Phong trào ấy phổ biến rất mau và rất sâu rộng tại Trung phần Ấn Độ. Người ta thường tụ tập dưới cội cây to nơi ngã ba đường, hay ngã tư đường, hay ở các cửa thành cùng các nhà công cộng dọc theo vệ đường, để bàn cãi và giảng giải những vấn đề kể trên.

Vấn đề quan trọng nhất trong thời kỳ ấy là con người muốn hạnh phúc. Câu thường hỏi nêu ra là: "Cái gì đem hạnh phúc đến cho nhân loại?"

Có vị giáo chủ đáp: "Tôi biết nguyên nhân đem hạnh phúc đến cho con người. Phàm trong thân thể con người, mắt là quan trọng nhất, vì mắt đem lại ánh sáng cho con người, là nguồn tươi sáng của con người. Người mà không có mắt, thì không còn phân biệt vạn vật chung quanh". Vì vậy, giáo chủ cho rằng: Mắt là nơi đem lại hạnh phúc đến cho con người. Mắt là nguồn hạnh phúc.

Khi ấy có người hỏi: "Theo lời ngài chỉ giáo thì mắt là nhân đem lại hạnh phúc đến cho con người phải chăng?"

Người ấy đáp: "Như tôi đã nói, mắt là chủ nhân của thân này và cả đời sống của con người nữa. Mắt đem lại tất cả hạnh phúc đến cho con người. Vì vậy nên tôi cũng nhận rằng mọi vật mà mắt trông thấy đều đem lại hạnh phúc đến cho con người".

Người nọ mới hỏi: "Ngài dạy thật đúng, tôi rất hoan nghênh, nhưng tôi còn nghi ngờ, không tin rằng tất cả sự vật mà mắt trông thấy đều là tốt đẹp hết. Bởi vì có những sự kiện bất hạnh, như những người bất hạnh, cùi, phong, có những việc nhơ nhớp hay việc làm cho mình bất bình, nếu ngài cho rằng những gì mắt thấy toàn là hạnh phúc, vậy những vật ấy có hạnh phúc hay không?"

Vì bị người chỉ trích như thế, không còn gì được nữa, ông giáo chủ hạnh phúc cụt hứng. Nhưng không vì vậy mà ông ta bỏ, ông vẫn tiếp tục truyền bá chủ trương hạnh phúc của ông và cũng còn có một nhóm người tin theo ông, nên lý thuyết ấy cũng còn tồn tại một thời gian, gọi là Dittha-mangala, tức là chủ nghĩa nói: Thấy là hạnh phúc.

Lại có vị giáo chủ khác chủ trương nghe là hạnh phúc, Phạn ngữ gọi là Sutamangala. Ông nói: "Nếu nói thấy là hạnh phúc, thì thật là lầm, vì mắt không quan trọng, như người ta nói chính là tai mới là quan trọng. Mắt là một giác quan lười biếng nhất trong thân này, nó còn phải nghỉ, hơn nữa mắt chỉ thấy vật gì trước nó và có ánh sáng nó mới trông thấy được, nếu thiếu ánh sáng và không phải ở trước nó, no không hề trông thấy được. Thế là mắt không quan trọng bằng tai, vì tai nghe không cần ban ngày hoặc ban đêm, ở phía nào đưa tới đều nghe cũng được. Vì vậy nên tôi công nhận rằng tai mới là vật đem hạnh phúc lại cho người".

Có người hỏi: "Thưa ngài, vậy những tiếng gì đã nghe do nơi tai đều là hạnh phúc và an lành hết chăng?"

Vị giáo chủ ấy đáp: "Chắc chắn vậy".

Người nọ hỏi: "Nếu vậy, khi nghe tiếng chửi bới nguyền rủa có phải là hạnh phúc chăng?"

Vị giáo chủ chủ trương nghe là hạnh phúc không giải thích cho thông, nên lại bị đả đảo như giáo chủ chủ trương thấy là hạnh phúc.

Khi ấy lại có vị giáo chủ chủ trương sự suy nghĩ là hạnh phúc, Phạn ngữ là Cintamangala. Vị ấy nói rằng: "Sự thật là trong thân người, bộ phận quan trọng nhất là tâm. Người nhờ có tâm mới biết được mọi việc, và có tâm mới biết mà hành động và phân biệt được mọi lẽ, người biết suy nghĩ cũng do nơi tâm, bởi vậy tâm mới là nhân đem hạnh phúc lại cho nhân loại. Vạn vật trên vũ trụ này đều do tâm tạo, nên tâm mới là nhân đem lại hạnh phúc cho ta".

Có người đứng lên hỏi: "Lời ngài dạy thật là chí lý, nhưng lũ cướp vừa bị xử trảm tại pháp trường đây, có phải là do sự suy nghĩ của họ đem sự tai hại cho họ hay không?"

Thế là thêm một vị giáo chủ bị loại trừ. Nhưng thiên hạ bấy giờ vẫn còn tìm biết chuyện nhân của hạnh phúc.

Người ta thường đem ba lý thuyết trên kia ra tranh luận với nhau, sự tranh biện như thế kéo dài đến 12 năm cũng chẳng ngã ngủ vào đâu. Về sau này, Đức Thế Tôn đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ngài truyền bá chân lý sâu rộng trong cõi Diêm Phù. Lúc ấy, có một vị Trời đến bạch hỏi Phật về hạnh phúc, Đức Phật mới dạy về 38 Pháp Hạnh phúc.

Ba mươi tám Pháp Hạnh phúc ấy, có thể chia ra làm hai loại là:

1. Những sự hạnh phúc của các bậc học giả uyên thâm tự mình tìm thấy, một nguyên do nào đem hạnh phúc lại cho mình, rồi tưởng nguyên do ấy cũng đem được hạnh phúc cho toàn thể nhân loại. Hạnh phúc ấy là trừu tượng, không phải là tuyệt đối, đó là thứ hạnh phúc của ba vị giáo chủ vừa đề cập trên đây.

2. Hạnh phúc của đấng Giác ngộ thuyết ra. Ngài không thuyết theo sự hiểu riêng của cá nhân ngài, mà Ngài thuyết theo Chánh pháp Ngài đã đắc dưới cội cây bồ đề do nhờ công đức Ba la mật của ngài.

Phàm người muốn được hạnh phúc thì phải thực hành 38 pháp, phân làm 3 giai cấp là:

1. Từ pháp hạnh phúc thứ nhất tới pháp thứ 18, để tạo nên một đời sống hạnh phúc giữa xã hội.

2. Từ pháp thứ 19 tới pháp thứ 30 để dạy tâm cho thanh tịnh, không để cho tâm bị tiền tài danh lợi lung lay.

3. Từ pháp 31 tới pháp 38 để dứt phiền não, nhập Niết Bàn, là nơi an vui tuyệt đối.

Các bậc tại gia cư sĩ và các hàng xuất gia tu sĩ hành trì các pháp hạnh phúc ấy tùy theo trình độ tinh tấn của mỗi hạng, từ các bậc căn cơ thấp cho tới bậc phước duyên tròn đầy. Nói một cách khác, 38 Pháp Hạnh phúc dạy phương pháp giải thoát hoàn toàn cho người Phật tử chân chính có lòng muốn tu giải thoát.

38 Pháp Hạnh phúc được thuyết giảng trong mười câu kệ ngôn trình bày theo thứ tự sau đây
Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị gia bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia, bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa[2]. na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất bà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án Tất Điện Đô Mạn Đa Ra. Bạt Đà Dạ, Ta Bà Ha.
Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có một bức tranh vô cùng nổi tiếng trong loại tranh thờ đó là "Ông Hoàng cầm quân".Bức tranh đã miêu tả một vị thánh đại diện cho một hàng trong Tứ Phủ đó là các Ông Hoàng hay Quan Hoàng.Cũng như hàng Quan Lớn ,các Ông Hoàng cũng đều là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng . Hàng Ông Hoàng gồm:

01- Ông Hoàng Cả ( Thượng Thiên )
02- Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn ( Người Nùng )
05- Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc
06- Ông Hoàng Tư
07- Ông Hoàng Năm
08- Ông Hoàng Bảy ( Bảo Hà )
09- Ông Hoàng Bát