22 June 2016

TÌM HIỂU VỀ SẮC, ẤN, LỆNH


Trong tín ngưỡng thờ tam, tứ phủ chúng ta thường nghe nhắc đến khái niệm:  Sắc, Ấn Lệnh. Đồng âm cùng tìm hiểu với các bạn về ý nghĩa thưc sự của Sắc, Ấn, Lệnh là gì nhé.

Theo từ điển Hán Việt:
Sắc: Văn bản
Lệnh: Mệnh lệnh cấp trên truyền xuống cấp dưới phải thi hành
Sắc Lệnh:  Mệnh lệnh bằng văn bản do cấp trên ban hành mọi người phải tuân theo
Ấn:  con dấu, hoặc dùng bàn tay đè xuống

Khi thực thi nhiệm vụ được giao, các thầy pháp, đồng thầy...sau một thời gian thử thách tùy duyên sẽ được bề trên ban Sắc, ấn, lệnh, đây chính là quyền hạn trong công việc mà người thầy đó được giao trọng trách. Sắc, Ấn, Lệnh có khi là vô hình người trần khó nhìn thấy nhưng lại rất có giá trị trong thế giới tâm linh, dùng sắc, ấn, lệnh này điều binh khiển tướng trong âm giới để thực thi nhiệm vụ.

SẮC: Có 5 loại sắc bao gồm:
1 Sắc lệnh: Là mệnh lệnh bề trên phê chuẩn dựa trên thiện duyên, nghiệp quả tu tập để giao phó sứ mạng
2. Sắc phong: Là mệnh lệnh bề trên phong thưởng, phong tặng quyền hạn (theo thiên quy cho chư thiên chư thánh)
3. Sắc dụ:  Là mệnh lệnh bề trên truyền bảo (thông báo) tới chư thiên, chư thánh cho biết điều gì đang xẩy ra hoặc sẽ xẩy ra
4. Sắc bảo: Là mệnh lệnh do Đại hội đồng tiên thánh phê truyền dựa trên thiện duyên nghiệp quả của người tu tập để giao phó sứ mệnh một cách bí mật không công khai, che giấu tài năng ngay cả tiên, thánh, thần, phật cũng it vị biết được
5 Sắc lệ: là mệnh lệnh bề trên quy định chiếu theo cách thức, rập theo khuân khổ lề lối thiên quy để làm việc hoặc trong một số án lệ thi bề trên sẽ ban sắc lệ chiểu theo điều lệ mà phục hồi quyền hạn

Trong thực tế thì trong công việc của tứ phủ chỉ có 3 hình thức cấp sắc: sắc lệnh, sắc lệ, và sắc dụ. Trong các Sắc này  Sắc Lệnh liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ của thanh đồng. Là người có mệnh đồng căn quả khi trình đồng mở phủ thì khi làm việc về tâm linh như soi căn, nối quả, gọi hồn diệt trừ yêu ma, luyện bùa luyện phép thì đều phải được cấp sắc lệnh bề trên cấp cho.

ẤN:  Ấn không chỉ là đại diện cho quyền năng, tượng trưng cho uy quyền của chư tiên, chư thánh trong tiên giới, địa giới mà còn là một tín vật để truyền thụ tôn giáo. Ấn chính là Con dấu của bề trên ban cho, giống như một vị tướng phải có Ấn lệnh vua ban, mới có thể hiệu triệu binh sỹ. Nói có người nghe, đe phải có người sợ, một Lệnh ban xuống, quân sỹ âm binh nhất nhất tuân tùng.

Ấn lại có Ấn dương ( hữu hình) và ấn Âm (Vô hình). Ấn  hữu hình làm bằng các nguyên liệu như:  Vàng, Ngọc, Đá, Gỗ…. hoặc ấn ở dạng vô hình ( ví dụ như phái nam tông, mật tông có khăn ấn, theo pháp mật tông gọi Ấn âm là ThIên Ấn, Còn Ấn Dương là Địa Ấn, trong Đạo Mẫu thầy dùng tay không để triện ấn).Thường khi thầy làm việc thì sẽ có ẤN lệnh ngay lòng bàn tay: 1 TAy ấn, 1 tay khuyết. Có phép thay lệnh hiệu triệu, ra lệnh hay trừ tà sát quỷ bằng ấn lệnh này, hoặc Người âm với nhau, chỉ cần giơ lòng bàn tay lên là người đối diện tức khắc hiểu là ai. Ấn được sử dụng trong các văn kiện, sớ tấu, điệp thức và bùa để triệu thần linh, làm tăng oai lực của bùa, thông quái đạt linh, trị bệnh, trừ tà, bảo vệ sức khỏe, vv……hiệu quả không thể nghĩ bàn.

Sự khác nhau giữa hai loại ấn trên là ở chỗ:
Ấn hữu hình: sử dụng các nguyên liệu tự nhiên làm thành ấn
Ấn vô hình: Là do căn cơ tiền kiếp hoặc do tu hành mà được bề trên giao ấn, việc giao ấn đồng nghĩa với việc được chứng nhận, tùy theo khả năng mỗi người mà được truyền các loại ấn khác nhau. Ấn được truyền thẳng vào trong người thầy, gọi là ấn vô vi. Khi thầy hạ bút, viết sớ thì có một ấn vô vi trên đó.

Tùy theo từng pháp môn và theo từng đẳng cấp  mà phân chia ra các loại ấn. Chúng ta có thể hình dung đơn giản thế này. Trong một cơ quan thì ấn ( dấu) của Giám đốc khác với ấn ( dấu ) của Phó giám đốc hoặc các Trưởng ban ngành, thì trong tâm linh cũng vậy, tùy theo nhiệm vụ được giao mà các Thầy có ấn khác nhau. Người xưa hay dùng các loại ấn như: Thiên bắc thìn trương ấn, thiên phù địa tiết chi ấn…..ở miền Bắc Việt Nam trong bảo tàng lịch sử có một loại ấn từ thời Hai Bà Trưng có hình con Nghê ở trên. Trong sách Tùy Thư Kinh Tập Chí có ghi chép: “ Lấy gỗ làm ấn, vào ngày thìn khắc ấn, hai tây chấp ấn hấp khí, lấy ấn trị bệnh”. Chữ khắc trên Ấn thì vô cùng đa dạng tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà khắc các loại chữ khác nhau.

Các bạn thân mến, để được bề trên giao Sắc, ấn, lệnh là cả một quá trình phấn đấu không ngừng nghỉ, cho nên không phải người nào tu tập tới các phẩm cao nhất trong giới thầy bà là cũng được cấp Sắc, ấn, lệnh . Ví dụ: người được cha mẹ cấp sắc dẫn dắt đồng con, hay trừ tà diệt ma thì chỉ cần một lời nói một cái tay giơ lên uy quyền vô cùng. hay cả việc tiến mã cũng thế có thầy tiền mã chạy được tất cả các cung các cửa nhưng có thầy tiến mã thì được mỗi phủ của vị cầm bản mệnh của thầy.

Nguyên tắc khi sử dụng Sắc, Ấn, Lệnh trong tâm linh “ tuyệt đối không được dùng bừa bãi trong các văn bản và lưu truyền các loại ấn giả, chỉ dùng ấn đúng với mục đích, nhiệm vụ được giao”. Trước khi làm việc phải xin cha mẹ cho phép, bề trên đồng ý thì lúc đó mới có thể tuân mệnh hành sự, không tự tung tự tác được. Ví dụ trong Nghi lễ tiến mã tứ phủ khất đồng, trước khi làm nghi lễ này người đồng thầy phải là người được giao trọng trách soi căn nối quả thì mới có thể làm được. Người thầy sẽ có một lễ trình (thanh bông hoa quả) trước để tấu trình bề trên về công việc định làm. Cha mẹ tứ phủ sẽ xét nếu người đó được tiến mã, khất đồng thì sẽ ban lệnh cho phép dồng thầy thực thi nhiệm vụ. Nếu không được phép tiến mã khất đồng thì người đó sẽ buộc phải ra trình đồng mở phủ, hầu hạ cha mẹ. Trong nghi lễ đó người thầy được phép của bề trên sẽ đóng ấn lệnh vào tờ đơn cánh sớ, có thầy thì có ấn khắc đàng hoàng, có thầy chỉ dùng bàn tay ấn xuống. Người trần nhìn thì thấy vậy nhưng ấn này rất quan trọng trong âm giới. Nó như một lệnh được ban ra, khi các vị hành sai nhận được tờ đơn cánh sớ có ấn lệnh này sẽ cấp tốc chuyển tới các cung các cửa trong linh giới để thực thi nhiêm vụ đã được cho phép

Tuy bề trên quy định kỹ càng về việc sử dụng Sắc, Ấn, Lệnh nhưng các thầy bà ngày nay hành động bừa bãi, bất tuân luật lệ, không theo nhân quả, tương lai những hành động sai sẽ phải tự chịu hậu quả.
Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị gia bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia, bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa[2]. na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất bà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án Tất Điện Đô Mạn Đa Ra. Bạt Đà Dạ, Ta Bà Ha.
Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có một bức tranh vô cùng nổi tiếng trong loại tranh thờ đó là "Ông Hoàng cầm quân".Bức tranh đã miêu tả một vị thánh đại diện cho một hàng trong Tứ Phủ đó là các Ông Hoàng hay Quan Hoàng.Cũng như hàng Quan Lớn ,các Ông Hoàng cũng đều là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng . Hàng Ông Hoàng gồm:

01- Ông Hoàng Cả ( Thượng Thiên )
02- Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn ( Người Nùng )
05- Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc
06- Ông Hoàng Tư
07- Ông Hoàng Năm
08- Ông Hoàng Bảy ( Bảo Hà )
09- Ông Hoàng Bát