04 January 2011

Sơ lược về hát Chầu Văn

SƠ LƯỢC VỀ HÁT CHẦU VĂN

     
  Hát chầu văn còn được gọi  là hát văn, hát văn chầu thánh, hát bóng….
Đó là hình thức lễ nhạc trong tín ngưỡng thờ Mẫu tam tứ phủ, cũng như tín ngưỡng thờ Trần Triều . Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn chau truốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh .
1. Phần lời của chầu văn :
Chầu văn sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thơ thất ngôn , song thất lục bát, lục bát, nhất bát song thất ( có thể gọi là song thất nhất bát gồm có một câu tám và hai câu bảy chữ ) , hát nói…
Các thí dụ minh họa:
-         Thể thất ngôn: ( trích đoạn bỉ của văn công đồng )

森森鶴駕從空下
Sâm sâm hạc giá tòng không hạ
顯顯鸞輿滿坐前
Hiển hiển loan dư mãn tọa tiền
不舍威光敷神力
Bất xả uy quang phu thần lực
證明功德量無邊
Chứng minh công đức lượng vô biên

-         Thể song thất lục bát: ( Trích văn Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên)
Chốn cung tiên mây lồng ánh nguyệt
Cảnh bầu trời  gió quyện hương bay
Cửu trùng tọa chín tầng mây
Thiên Tiên Đệ Nhất ngự rày trung cung

Gió đông phong hây hây xạ nức
Bộ tiên nàng chầu chực hôm mai
Dập dìu nơi chốn trang đài
Chính cung Mẫu ngự trong ngoài sửa sang


-         Thể lục bát: ( Trích văn Chầu Đệ Nhị )
Trên ngàn gió cuốn rung cây
Dưới khe cá lặn chim bay về ngàn
Canh khuya nguyệt lặn sao tàn
Chiếc thoi bán nguyệt khoan khoan chèo vào
Gập ghềnh quán thấp lầu cao
Khi ra núi đỏ lúc nào ngàn xanh
Thượng ngàn Đệ Nhị tối linh
Ngôi cao công chúa quyền hành núi non

-         Thể song thất nhất bát ( Trích văn Cô Bơ Thoải)
Nhang thơm một triện,trống điểm ba hồi
Đệ tử con, dâng bản văn mời
Dẫn sự tích thoải cung công chúa

Tiền duyên sinh ở:thượng giới tiên cung
Biến hóa lên về Động Đình trung
Thác sinh xuống ,con vua thoải tộc

Điềm trời giáng phúc ,thoang thoảng đưa hương
Mãn nguyệt liền,hoa nở phi phương
Da tựa tuyết ánh hường tươi tốt

-         Thể hát nói: ( Trích văn Quan Đệ Nhị )
Nhác trông lên tòa vàng san sát,
Không đâu bằng Phố Cát, Đồi Ngang
Đá lô xô nước chảy làn làn
Điều một thú cỏ hoa như vẽ

Nhạn chiều hôm bay về lẻ tẻ,
Trên sườn non chim sẻ ríu ran.
Nuớc dưới khe tung tính tiếng đàn,
Trên đỉnh núi tùng reo điểm trống

Ngần ngật Sòng Sơn kiêu dĩ lộng
Thanh thanh chi thủy chiếu trần tâm
Sơn chi cao hệ thủy chí  thâm
Đây thực chốn non nhân nước trí


2. Các nhạc cụ dùng trong hát chầu văn : Các nhạc cụ chính gồm đàn nguyệt ( đàn kìm) , trống ban ( trống con), , phách, cảnh, thanh la, Ngoài ra hát chầu văn còn sử dụng nhiều khạc cụ khác như: trống cái, sáo, đàn thập lục, nhị, kèn tàu, chuông, mõ…


2. Các hình thức hát chầu văn:
Thực tế có nhiều hình thức hát chầu văn như hát văn thờ , hát văn hầu thánh, hát văn thi và hát văn cửa đền. (nội dung chưa viết)

3. Các làn điệu trong hát chầu văn :
Hát chầu văn sử dụng nhiều làn điệu ( hay còn gọi là lối hát, cách hát). Người xưa còn gọi làn điệu là cách . Thí dụ như điệu bỉ thì gọi là bỉ cách, điệu dọc thì gọi là dọc cách…
 Chầu văn có hơn chục làn điệu bao gồm:
Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú rầu ( phú dầu) , Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Cờn Xá, Kiều Dương, Hãm , Dồn, Hát Thỉnh , Hát Sai ( Hành Sai), ngâm thơ. Ngoài ra còn sử dụng nhiều làn điệu khác như hát nói trong ca trù,  hát then, hò Huế, hồ quảng, hát canh …..

3.1-Bỉ Cách: đây là làn điệu mở đầu cho hình thức hát văn thờ. Thông thường điệu Bỉ đuợc hát trên thể thơ thất ngôn tứ cú ( bốn câu mỗi câu bảy chữ) hoặc thất ngôn bát cú ( tám câu mỗi câu bảy chữ) nhưng cũng có khi điệu này có thể hát trên các thể thơ khác như song thất lục bát, lục bát, song thất nhất bát. Trong các bản sự tích chư thánh được hát thờ thì đoạn bỉ thường là đoạn giới thiệu tóm tắt nội dung chính của cả bản văn. Các đoạn bỉ cũng thường sử dụng nhiều câu đối nhau ( biền ngẫu). Một điều đặc biệt nữa đó là điệu bỉ chỉ có trong hát văn thờ mà tuyệt nhiên không có trong hát văn hầu đồng :

Ví dụ:
Bỉ ( thất ngôn tứ cú) – Trích văn công đồng 
Biểu diễn: Khắc Tư- Trọng Quỳnh


video

Thần kim ngưỡng khải tấu chư tôn

Tọa thượng dương dương nghiễm nhược tồn

Nguyện thỉnh pháp âm thi huệ lực

Tùy cơ phó cảm nạp trần ngôn


Bỉ ( thất ngôn bát cú) – Trích cảnh thư đường văn:
Biểu diễn: Trọng Quỳnh- Văn Trung.

video


Xe phượng từ vâng sắc Ngọc Hoàng
Giáng sinh Lê Thị dấu thiên hương
Hây hây mặt ngọc phô nền trắng
 
Rờ rỡ môi soi ánh nhị vàng
Hiển hách đã vang trong phủ Nghĩa
 
Anh linh nổi tiếng chốn Sòng Sơn
 
Từ vâng ngọc ấn gia phong tặng
Náo nức xa gần khắp bốn phương

Bỉ ( song thất nhất bát kết hợp cùng thể hát nói )– Trích văn tứ vị đại cờn:


video



Tấu thỉnh Đại Cờn Nam Hải thiên tôn

Liệt tiết chiếu thập nhị hải môn
Kính đức ánh tam thiên tịnh độ

Tối linh tối tú đại từ đại bi
Trình tiền vi nam tống mẫu nghi
Hoá hậu quán nữ trung thần vị

Nhất môn chính khí vạn cổ anh phong
Cổn hoa vinh lịch đại bao phong
Lễ nhạc hấp quần phương ca vũ
( 3 trổ thơ của thể song thất nhất bát)

Biểu tiết na sơn danh bất hủ
Dương thanh càn hải thủy vô trần
Truớc linh thông tự nhật vọng vân
Khu cảm ứng chiêm thiên vọng thánh
(Thể hát nói- biến thể của song thất và thất ngôn)

Kim thần nhất tâm bái thỉnh khải tấu thiên tôn
Phú văn ngôn tuyên dương đôi huyệt

Bài viết : QUÁCH TRƯỜNG LÂM
Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị gia bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia, bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa[2]. na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất bà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án Tất Điện Đô Mạn Đa Ra. Bạt Đà Dạ, Ta Bà Ha.
Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có một bức tranh vô cùng nổi tiếng trong loại tranh thờ đó là "Ông Hoàng cầm quân".Bức tranh đã miêu tả một vị thánh đại diện cho một hàng trong Tứ Phủ đó là các Ông Hoàng hay Quan Hoàng.Cũng như hàng Quan Lớn ,các Ông Hoàng cũng đều là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng . Hàng Ông Hoàng gồm:

01- Ông Hoàng Cả ( Thượng Thiên )
02- Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn ( Người Nùng )
05- Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc
06- Ông Hoàng Tư
07- Ông Hoàng Năm
08- Ông Hoàng Bảy ( Bảo Hà )
09- Ông Hoàng Bát