30 March 2011

Căn đồng , cơ đày


Những ông đồng bà đồng cho rằng việc hầu đồng của họ là do họ có căn , có số , hay còn gọi là căn đồng . Căn ở đây nghĩa là căn quả , là số phận đã định cho một số người phải hầu thánh . Hay nói một cách khách họ có căn cao số dầy .  Căn số có thể nhẹ hay nặng . Chị N ở tỉnh Hưng Yên nói rằng những người có căn nặng tức là có căn của một vị thánh nào đó , nếu không mở phủ thì sẽ bị thánh hành , bị ốm đau , và cuộc sống sẽ khổ sở . Trở thành ông đồng bà đồng không phải đơn giản . Làm nghề hầu bóng là gánh thêm một bổn phận với các vị thánh Tứ phủ . Những ông đồng bà đồng trước khi quyết định trở thành người hầu thánh họ thường có chuyện chẳng lành , ốm đau , bệnh tật , cơ đày . Có những người còn bị thần kinh , hay bị điên mà nhiều khi không biết lý do vì sao ,  mặc dù đã đi bệnh viện chữa , nhưng không khỏi , họ đành phải gặp một ông đồng trưởng để nhờ làm lễ 

Theo một số đồng thầy thì những người có căn số có thể nhận biết được bằng dáng vẻ , theo tử vi hoặc bằng tướng số . Thậm chí họ còn nói " ai cung có căn " nhưng cơ bản họ dựa vào tử vi và tính cách để đoán qua tính cách mà đoán người đó có căn của vị thánh nào .  Đàn ông và đàn bà có thể có căn của vị thánh khác giới với mình . Những người có căn của vị nam thần , thì người ta cho rằng họ có nét mặt bừng bừng , mắt long lanh trông hơi dữ tướng , nóng tính và bốc đồng . Những người có căn của nữ thần thì có vẻ thuần hơn và nữ tính hơn . Những người phụ nữ nóng tính , nhưng có phần cương quyết thì cho họ là có căn quan hoặc căn ông Hoàng , cũng như vậy những người đàn ông trông nữ tính , thì người ta cho đó là có căn cô , chẳng hạn căn cô chín hay căn cô bé 

Những người có căn của vị thánh nào đó có thể hiện ra tính cách có vẻ phù hợp với phong thái của vị thánh đó như được miêu tả trong truyền thuyết hay chầu văn . Chẳng hạn người có căn của Đức Thánh Trần thì trông rất phong độ và tính khí mạnh mẽ của một quan võ . Khi giáng đồng , họ sẽ thắt cổ bằng một chiếc khăn lụa , đôi khi còn xiên hình và " cắt dấu mặn " , đặc biệt là trong những buổi lễ chữa bệnh hoặc hầu vào những ngày lễ lớn , như là tiệc của Đức Thánh Trần Triều . ....

Nếu chúng ta đến một điện thờ tứ phủ và có cơ hội nói chuyện với chủ đền và kể về bản thân đã bị hành , là nạn nhân bị bệnh kết tóc và bị điên ra sao , và kể về những căn bệnh khác mà chữa không khỏi sau đó đề nghị ông chủ đền mở phủ cho . Chị N là một người như vậy  , chị còn nhấn mạnh rằng cuộc đời chị khấm khá lên rất nhiều từ khi ra mở phủ , và nay chị đã theo đuổi và gắn bó cả đời mình với việc hầu thánh . Chị nói " nếu tôi không lên đồng nữa , tôi sẽ bị ốm dở và không thiết ăn uống gì . Tôi chỉ uống nước và ăn chút hoa quả "
Câu truyện về những ông đồng bà đồng bị kết tóc , bị ốm bị hành là rất phổ biến . Theo lời của họ , thì họ coi đó như là bị bắt sát , bị mắc một thứ bệnh tâm linh , mà đôi khi họ gọi là bệnh âm .  Những bệnh này được nhìn nhận như là triệu chứng của " căn cao số dầy : hay nói một cách khác là căn đồng . Có những người mơ gặp Thánh , nhìn thấy rắn , thấy đỉa , hay mơ bay bổng lên thế giới vô hình khác . Họ có thể bị kết tóc , tức là tóc của họ bị tết và bết lại mà không có lý do , không thể chải cho tóc của họ duỗi ra được ,  Họ có thể bị điên , đi lang thang và nói lăng nhảm nhí




( còn tiếp )

Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị gia bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị gia, bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa[2]. na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất bà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dũ nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ ta bà ha. Án Tất Điện Đô Mạn Đa Ra. Bạt Đà Dạ, Ta Bà Ha.
Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có một bức tranh vô cùng nổi tiếng trong loại tranh thờ đó là "Ông Hoàng cầm quân".Bức tranh đã miêu tả một vị thánh đại diện cho một hàng trong Tứ Phủ đó là các Ông Hoàng hay Quan Hoàng.Cũng như hàng Quan Lớn ,các Ông Hoàng cũng đều là những hoàng tử hay danh tướng có tài giúp dân giúp nước nên được nhân dân thờ phụng . Hàng Ông Hoàng gồm:

01- Ông Hoàng Cả ( Thượng Thiên )
02- Ông Hoàng Đôi Thượng Ngàn ( Người Nùng )
05- Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc
06- Ông Hoàng Tư
07- Ông Hoàng Năm
08- Ông Hoàng Bảy ( Bảo Hà )
09- Ông Hoàng Bát